Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ ngàn đời xưa, khi con người mới xuất hiện vào hàng vạn năm trước, con người đã ở trên đất, biết khai các nguồn tài nguyên đất nhằm vụ đời sống của mình. Theo lịch sử phát triển, xã hội hình thành và phát triển qua năm giai đoạn: thời nguyên thủy, thời kỳ chiếm hữu nô lê, thời phong kiến và sau đó xã hội tiến lên tư bản chủ nghĩa cuối cùng của chế độ con người hướng tới xã hội công bằng chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng làm cùng hưởng. Theo dấu về thời kỳ đầu tiên con người mới xuất hiện, họ đã biết sống thành những thị tộc bộ lạc và cư trú trên mặt đất, trong những hang đá, họ săn bắt hái lượm những cây trái tự nhiên mọc trên mặt đất, những cây trái, sinh vật đó nhờ tài nguyên đất mà phát triển và đơm hoa kết trái.
Phát triển hơn thời kỳ chiếm hữu nô lệ đã biết khai thác nguồn tài nguyên đất nhiều hơn, họ gieo trồng và nuôi những con vật trên dấtđể phục vụ nhu cầu tiết yếu của bản thân nhiều hơn, của cải vật chất dư thừa – xã hội phát triển hơn. Tiếp sau chế độ chiếm hữu nô lệ thì con người ở xã hội phong kiến đã biết chia ruộng đất ra để trồng trọt, chăn nuôi, sinh sống tạo ra tối đa của cải vật chất và cứ thế con người theo thời gian qua các chế độ xã hội coi đất đai như một công cụ không thể thiếu để duy trì và phát triển cuộc sống của mình. Hiện nay xã hội phát triển con người ngày càng thông minh, họ biết phân bổ, quản lý và sử dụng đất đai nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể. Việt Nam ta nền tảng là một đất nước nông nghiệp, hình thành và phát triển trên nền văn minh lúa nước, cho đến hiện tại đất nước định hướng phát triển theo nền kinh tế thị trường nhưng vẫn gắn liền với nền nông nghiệp, và nhắc đến nông nghiệp ta không thể không nhắc đến tài nguyên đất đai.
Đất đai là nơi phục vụ con người trồng ra hạt thóc, trồng ra được rau xanh, trồng ra các loại hoa quả, là nơi giúp các loại thảo dược dược liệu chữa bệnh cho con người phát triển, đất là nguồn tư liệu sản xuất mà chưa có loại tư liệu nào có thể thay thế được trong quá trình sản xuất ra của cải trong xã hội. Không chỉ là tư liệu sản xuất tài nguyên đất còn là nơi cư trú của con người cũng như các loại sinh vật khác: con người xây nhà, các công 2 trình sự nghiệp, cơ sở vật chất trên đất làm nơi ổn định và tránh được các hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt cũng như phục vụ đời sống hàng ngày của con người. Nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng cao, chính bởi vậy Nhà nước cần đưa ra các công cụ cũng như biện pháp đáp ứng được việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý. Bản đồ địa chính là một trong những công cụ, là nền tảng cho công tác quản lý.
Tại Việt Nam, bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính từ cấp xã, phường thị trấn và đồng nhất. Bản đồ địa chính là loại tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính, hữu ích công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Phường Ngọc Thụy, quận Long Biên- một phường có diện tích tự nhiên lớn nhất trong các phường trung tâm của thủ đô. Với địa hình bằng phẳng tập trung đông dân cư vì vậy mật độ sử dụng đất rất cao, nhất là đất phi nông nghiệp.
Bám sát tình hình thực tế sử dụng đất tại địa phương, Ngọc Thụy là địa bàn đòi hỏi bức thiết cần chỉnh lý, thành lập nhằm đưa vào sử dụng bản đồ địa chính mới nhất phục vụ việc quản lý kịp thời và hiệu quả. Trước tình hình thực tế khách quan, dưới sự phân công của khoa Quản lý tài nguyên- Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự dẫn dắt của TS. Vũ Thị Thanh Thủy và sự giúp đỡ của Xí nghiệp Phát triển công nghệ trắc địa bản đồ em tiến hành nghiên cứu đề tài :“Biên tập bản đồ địa chính tờ bản đồ số 106, tỷ lệ 1/500 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội bằng sự trợ giúp của phần mềm Gcadas chạy trên nền MicroStation V8i. Ý nghĩa của đề tài - Trong nghiên cứu và học tập + Giúp sinh viên áp dụng lý thuyết vào thực tế công việc.
+ Sinh viên được nghiên cứu và tìm hiểu thêm về các vùng địa lý, trau dồi kiến thức xã hội vùng miền. + Tiến hành nghiên cứu đề tài giúp sinh viên rèn luyện các thao tác, kỹ năng về ứng dụng phần mềm. - Trong thực tiễn 3 + Việc thành lập bản đồ địa chính phường Ngọc Thụy giúp công tác quản lý về sử dụng đất được chặt chẽ và hiệu quả đến từng thửa đất, mang lại độ chính xác cao nhất. + Bản đồ sẽ là nền tảng giải quyết các nhu cầu về đất đai trên địa bàn phường, kích cầu thị trường bất động sản trên địa bàn.
4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái quát về bản đồ địa chính Tương truyền để lại rất nhiều khái niệm và cách hiểu về “ địa chính”, tuy nhiên đối với nhân dân ta cách hiểu gần gũi nhất địa chính là khái niệm gắn chặt với GCNQSDD. Cũng có thể hiểu địa chính là thể tổng hợp các tư liệu văn bản xác định rõ vị trí, ranh giới, phân loại, số lượng, chất lượng của đất đai, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc phân bổ, đánh thuế đất, và của việc quản lý bao gồm trách nhiệm thành lập, cập nhật, và bảo quản các tài liệu địa chính.
Khái niệm về bản đồ địa chính - Bản đồ: được hiểu là hình dạng thu nhỏ của các vật thể trên bề mặt trái đất theo các tỷ lệ đã được quy định. Xã hội ngày càng phát triển, công nghệ tiên tiến và phát triển vượt trội, bên cạnh bản đồ giấy, ngày nay còn có thêm bản đồ số. - Bản đồ có rất nhiều loại, bản đồ địa chính là một loại bản đồ được thành lập chuyên sâu cho ngành quản lý đất đai. - Bản đồ địa chính được thành lập từ việc đo vẽ trực tiếp bằng các loại máy đo chuyên dụng và kết hợp đo vẽ bằng ảnh chụp từ vệ tinh xuống.
Bản đồ này là tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính, là tài liệu gốc cho các nhà quản lý làm căn cứ phê duyệt các hình thức chuyển quyền sử dụng đất khi công dân có nhu cầu. Và bản đồ địa chính thời kì trước còn làm nền tảng cho các dự án xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũng như là xây dựng cập nhật bản đồ địa chính mới nhất đưa vào sử dụng dụng. Nội dung của bản đồ địa chính 2. Những yếu tố thể hiện trên bản đồ địa chính - Khung của bản đồ - Điểm khống chế tọa độ, độ cao quốc gia các hạng.
+ Điểm địa chính, điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có đặt mốc ổn định. 5 - Mốc địa giới hành chính và đường địa giới hành chính các cấp. - Mốc giới quy hoạch, các chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông, thuỷ lợi, đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn khác - Ranh giới của thửa đất, loại đất, số thứ tự của thửa đất, diện tích của thửa đất. - Nhà ở và các công trình xây dựng khác - Các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất: đường giao thông, công trình thủy lợi, đê điều, sông, suối, kênh, rạch và các yếu tố chiếm đất khác theo tuyến.
- Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và ý nghĩa định hướng cao. - Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao. - Ghi chú thuyết minh. Các yếu tố nội dung chính thể hiện trên bản đồ địa chính Nội dung thể hiện trên bản đồ địa chính gồm: + Khung bản đồ; + Điểm khống chế tọa độ, độ cao quốc gia các hạng, điểm địa chính, điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định.
+ Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp. + Mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông, thủy lợi, đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hành lang bảo vệ an toàn. + Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất. + Nhà ở và công trình xây dựng khác + Các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất như đường giao thông, công trình thủy lợi, đê điều, sông, suối, kênh, rạch và các yếu tố chiếm đất khác theo tuyến; + Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và ý nghĩa định hướng cao; + Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao - Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp: 6 + Biên giới Quốc gia và cột mốc chủ quyền Quốc gia thể hiện trên bản đồ địa chính phải phù hợp với Hiệp ước, Hiệp định đã được ký kết giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước tiếp giáp; ở khu vực chưa có Hiệp ước, Hiệp định thì thể hiện theo quy định của Bộ Ngoại giao; + Địa giới hành chính các cấp biểu thị trên bản đồ địa chính phải phù hợp với hồ sơ địa giới hành chính; các văn bản pháp lý có liên quan đến việc điều chỉnh địa giới hành chính các cấp; - Đối tượng thửa đất + Thửa đất được xác định theo phạm vi quản lý, sử dụng của một người sử dụng đất hoặc của một nhóm người cùng sử dụng đất hoặc của một người được nhà nước giao quản lý đất, có cùng mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
+ Đỉnh thửa đất là các điểm gấp khúc trên đường ranh giới thửa đất, đối với các đoạn cong trên đường ranh giới, đỉnh thửa đất trên thực địa được xác định đảm bảo khoảng cách từ cạnh nối hai điểm chi tiết liên tiếp đến đỉnh cong tương ứng không lớn hơn 0,2 mm theo tỷ lệ bản đồ cần lập. + Cạnh thửa đất trên bản đồ được xác định bằng đoạn thẳng nối giữa hai đỉnh liên tiếp của thửa đất. + Ranh giới thửa đất là đường gấp khúc tạo bởi các cạnh thửa nối liền, bao khép kín phần diện tích thuộc thửa đất đó.