Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi phạm tội và nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội: 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội: Điều 1 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam là thành viên có quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Khái niệm “trẻ em” trong Công ước có điểm khác với khái niệm “trẻ em” trong Luật trẻ em năm 2016 của Việt Nam.
Tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Tuy nhiên, khái niệm “trẻ em” của Công ước lại tương ứng với khái niệm “Người chưa thành niên” trong Bộ luật dân sự 2015. Tại Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, có thể hiểu những người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.
Việc phân chia nhóm người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) với nhóm người đã đủ 18 tuổi (người thành niên) đều được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Mỗi quốc gia căn cứ vào các điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của mình mà quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Đặc điểm của người dưới 18 tuổi là họ chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Họ là đối tượng được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm chăm sóc và giáo dục để có những điều kiện phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành những công dân hữu ích cho xã hội trong tương lai.
Về tội phạm, các nhà nghiên cứu luật pháp thường quan niệm: Tội phạm là hiện tượng tiêu cực xã hội mang thuộc tính xã hội pháp lý, nó luôn chứa đựng đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại với lợi ích chung 8 của cộng đồng, xâm phạm đến quyền tự do và lợi ích chính đáng của công dân. Trong Luật Hình sự Việt Nam cũng định nghĩa: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ [27]. Theo đó, khái niệm tội phạm ở người dưới 18 tuổi phạm tội được xác định khác với khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội, mặc dù, hai khái niệm trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Người dưới 18 tuổi phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt - đó là người dưới 18 tuổi đã có hành vi phạm tội; còn tội phạm ở người dưới 18 tuổi là khái niệm dùng để chỉ một loại tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra.
Điều 12 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: 1) Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Tuy nhiên, xuất phát từ một quan điểm nhân văn là việc xác định một trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội có hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay không còn căn cứ vào Điều 91 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ tội phạm, hoặc không quy kết tội phạm. Đại đa số trẻ chưa thành niên đều chấp nhận một cách hòa bình với các quy tắc ứng xử của xã hội. Việc vi phạm pháp luật của lớp trẻ này nói chung chỉ do sự phản ứng bồng bột, nhất thời và sự lệch lạc đó sẽ mất đi khi các em bước vào giai đoạn trưởng thành.
Vì vậy, cần phải cân nhắc cẩn thận về việc vi phạm pháp luật này. Ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với đối tượng này khi phạm tội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan 9 nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Và tội phạm do người dưới 18 tuổi phạm tội gây ra chỉ xuất hiện khi có đầy đủ 3 điều kiện sau đây: Một là, có hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện; Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm; Ba là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ quan có thẩm quyền xem xét, cân nhắc khi áp dụng các biện pháp giáo dục, giám sát khác không có hiệu quả thì sẽ áp dụng hình phạt đối với họ.
Những điều trên đây cho thấy tầm quan trọng trong việc xác định tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra, bởi không phải mọi trường hợp một người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm.Quá trình xử lý người chưa thành niên những người áp dụng pháp luật phải xem xét, cân nhắc, đánh giá nhiều yếu tố như nhân thân, tính chất nghiêm trọng của hành vi…để đưa ra biện pháp phù hợp nhất nhằm mục đích giáo dục, cải tạo họ hơn là trừng phạt. Từ những phân tích trên ta có thể hiểu khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội: Người dưới 18 tuổi phạm tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người dưới 18 tuổi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi của mình theo phán xét của cơ quan tiến hành tố tụng. Đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi phạm tội: Đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi thể hiện ở những điểm chính như sau: Về trạng thái xúc cảm: trong giai đoạn này, người dưới 18 tuổi có sự phát triển mất cân đối giữa chiều cao và cơ bắp vì thế họ thường lóng ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc. Điều này gây cho một biểu hiện tâm lý khó chịu.
Sự phát triển về hệ thống tim mạch cũng không cân đối, đây là nguyên nhân gây nên biểu hiện hay bị chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc nhanh chóng suy giảm. Các 10 tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh, do đó, những người dưới 18 tuổi dễ xúc động, bực tức, nổi khùng. Hệ thống thần kinh cũng chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, họ dễ bị kích động [1, tr. Do đó, trạng thái cảm xúc của những người dưới 18 tuổi, đặc biệt là ở độ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc suy giảm, dễ bị kích động, dễ nổi nóng… Về nhu cầu độc lập: với những phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự hoàn thiện cơ bản của các chức năng sinh lý khiến cho người chưa thành niên có ấn tượng rằng mình đã trưởng thành.
Họ phát triển nhận thức của bản thân và bắt đầu hình thành quam điểm, chính kiến riêng. Những người này không phải lúc nào cũng nghe theo người lớn, họ thích có sự độc lập nhất định. Khi đưa ra các quyết định, người dưới 18 tuổi thường không cân nhắc được đầy đủ tất cả các hệ quả của hành động của hộ theo cách lý trí như “người lớn”. Đặc biệt, ở giai đoạn này người dưới 18 tuổi thường có nhu cầu cố gắng thuộc về một nhóm bạn với những người khác thường mãnh liệt.
Do đó, họ dễ bị ảnh hưởng bởi người khác theo cả nghĩa tiêu cực lẫn tích cực [1, tr. Về nhận thức pháp luật: giai đoạn này, người dưới 18 tuổi có sự phát triển về nhận thức còn hạn chế, trong đó có nhận thức về pháp luật. Giai đoạn này, những người dưới 18 tuổi thường đang ở độ tuổi học sinh đang tiếp thu các kiến thức văn hóa, xã hội là chủ yếu. Họ chưa cọ xát thực tế xã hội nhiều nên nhu cầu tìm hiểu kiến thức pháp luật hạn chế.
Về nhu cầu khám phá cái mới: là một trong những nhu cầu của người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là khoảng thời gian mà những người trẻ tuổi nỗ lực vượt bậc, tò mò, tiếp thu các kiến thức nhanh để khẳng định bản thân. Xuất phát từ những đặc điểm tâm lý trên nên việc xử lý người người dưới 18 tuổi phạm tội phải tuân theo những quy định riêng với nguyên tắc riêng. Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội: Nguyên tắc là những quy định có tính định hướng cho việc xây dựng các điều luật khác tại Chương X – Các quy định đối với người chưa thành niên phạm 11 tội, đồng thời đóng vai trò kim chỉ nam cho cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Với những đặc điểm hạn chế về mặt thể chất cũng như tâm sinh lý do lứa tuổi, cũng như nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi chủ yếu bắt nguồn từ những thiếu sót, bất cập, sai lầm trong việc nuôi dưỡng giáo dục của gia đình, xã hội. Đồng thời, đây cũng là đối tượng đang ở ngưỡng cửa cuộc đời, trong giai đoạn hình thành nhân cách, cá tính, lập trường quan điểm chưa rõ …tất cả có thể làm lại từ đầu, khả năng tiếp thu, giáo dục là rất lớn.