PHẠM VĂN CÔN NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP PG S. PHẠiM V&N CÕN Các biện pháp điểu khiển Sinh trưỏng, Phát triển, Ra hoa, Kết quả Cây ăn trái NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2 0 0 3 LỜI TÁC GIẢ Nghề tiồnẹ câv ăn quả hiện nay đã trở thành một lỉíỊÌinlỉ kinh doanh quan trọng à nhiểu nước trên thê giới: TnmiỊ Quốc nổi tiếng íỊìếÍỊÌỚÌ với quả táo Tãu; Án Độ xuất khẩu xoài; ỉtaỉia vù Tây Ban Nhơ xuất khẩu chanh; Israen, Ai Cập, Ma Rôc xuất khẩu cam; Equado, Philippin xuất khẩu chitỏĩ; Niu Di Lân xuất khẩu quả Ktvì. Sán phẩm tươi và chế biến từ quá đã mang lại một nguồn thu đáng kê. Trong những năm gân đây cúc chương trình nghiên cứu Iơig dụng nhiều ngành khoa học công nghệ, đưa các tiến bộ kỹ ĩhuậĩ mới vào sản xuất cày ân quả được đấy mạnh, tập ĩntng ý ả i quyết các khâu kỹ thuật trọng tàm dối với mội số Ioại cày ăn quả chủ yếu.
Đ ể cung cấp cho íhị trường sản phẩm quả íươi rưo thời điểm mang lại hiệu quả kình t ế nhất thì ngoài sự hiểu biết về quy luật sình trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả cùa cá V ăn quả, người sản xuất cần nắm vững những biện pháp kỹ thuật chủ yếu như: Điều khiển ra hoa, kết quả bằng các biện pháp cơ ẹiớì và chất điểu tiết sinỉì trưởng. Tạo hình cắt tỉa cành, sử (htììíị phâìì bóiì hợp /Ý’ nhâm nâng cao ìỉãiiiỊ suất, plỉẩm chất sàn phẩm. Cnổn sách lù ỉải liệu tham khảo tốt cho cán bộ chuyên ngành, các nhà trồriiỊ vườn, học sinh rà sinh viên ngành cây írống. Chímg tôi maniị nhận được nhiều Vkiêh đóng íịốp cĩtư bụn đọc dể nội ứunạ nạày cà tì ỹ hoàn thiện và giúp ích nlneit hơn cho những ai quưn lâm đến nqhề trổng cây ủn quả.
3 Chương ĩ QUY LUẬT SINH TRƯỞNG, PHÁT TRlỂN, RA HOA, KẾT QUẢ LI. S ự PHÁT TRIỂN CÁ THỂ CỦA CÂY 1. Mối quan hệ của sự phát triển với bản chất di truyền và diều kiện sinh trưởng Sính trưởng, phát triển là kết quả hoạt động tổng hợp của những chức năng sinh lý riêng biệt như: trao đổi nước, quang hợp, hô hấp, vận chuyển vằ phân bố chất hữu cơ trong cây, dinh dưỡng khoáng và đạm của cây. Các chức năng sinh lý này xảy ra một cách đổng thòi và luôn luôn có mối quan hệ khăng khít ràng buộc với nhau.
Quan niệm về sự sinh trưởng và phát triển của cây được thừa nhận hiện nay là của Libbert: - Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô, toàn cây và kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích sinh khối của chúng. - Plvíl triển là quá tiình biến đổi vể chất bén trong tế bào, mò và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng. 5 \ Các biểu hiện về sự sinh trưởng như: sự phân chia tế I bào, sự giãn của tế bào, sự tảng kích thước của thân, cành, lá, hoa, quả, sự đâm chồi nảy lộc, đẻ nhánh. là không thể đảo ngược.
Nhưng sự tăng kích thước và trọng lượng hạt do hút nước không thể xem là sinh trưởng vì đó là quá trình thuận nghịch. Tất cá những biểu hiện có liên quan đến những biến đổi chất để làm thay đổi hình thái và chức nãng của tế bào, của cơ quan. được xem là sự phát triển: Sự nảy mầm của hạt có thể xem đó là một bước nhảy vọt, từ một hạt có hình thái và chức nãng xác định, nhưng khi nảy mầm thì trờ thành một cây con có hình thái và chức năng hoàn toàn khác với hạt - một cây con hoàn chỉnh có khả nãng thạc hiện các chức năng của một cơ thể thực vật bình thường. Sự ra hoa là một bước ngoặt chuyển từ giai đoạn sinh trưởng các cơ (Ịuan dinh dưỡng sang giai đoạn mới hình thành cơ quan sinh sản.
Đây là kết quả của một quá trình biến đổi vể chất liên tục và lâu dài để có được những cơ quan sinh sản với chức năng hoàn toàn thay đổi. Ớ mức dộ tê bào, thì phân hóa tê bào thành các mó chức năng riêng biệt cũng được xem là quá trình phát triển của tế bào. Tuy nhiên, về ranh giới giữa quá trình sinh trưởng và phát triển thật khó xác định. Có thể xem đáy là hai mặt của một quá trình biến đổi chất và lượng: Sự biến đổi về chất đến một mức độ nhất định dẫn đến sự thay đổi vể lượng; 6 ngược [ại sự biến đổi về lượng tạo diều kiện thuận lợi cho sự biến đổi về chất.
Trong thực tế, quá trinh sinh trướng và phát triển thường biểu hiện xen kẽ nhau rất khó tách bạch. Vì vậy trong dời sống của cây người ta chia ra 2 giai đoạn chính: giai đoạn sinh trưởng phát triển dinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng phát triển sinh sản mà ranh giới là sự ra hoa. Trong giai đoạn thứ nhất thi hoạt động sinh trưởng và phát triển của các cơ quan đinh đưỡng (rễ, thân, lá) là ưu thế. Còn giai đoạn thứ hai thì sự hình thành, sinh trưởng và phân hóa của cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ là ưu thế.
Người ta có thể điều khiển sao cho tỷ lệ giữa hai giai đoạn này của cây trổng thích hợp nhất với mục đích kinh tế của con người. Muốn điều khiển được sinh trưởng, phát triển của cây thí phải hiểu biết sâu sắc về quá ĩrình này, các nhân tố nội tại và ngoại cảnh điều chỉnh các quá trinh phát sinh hình thái riêng biệt cũng như toàn cây, trên cơ sở đó có những biện pháp tác động thích hợp nhất. Chẳng hạn: Sự phát triển của câv phụ thuộc vào biện pháp nhân giống. Cây con hữu tính (cây thực sinh mọc từ hạt) tuân theo quy luật phát triển đầy đủ nhất, vì chúng phát triển lại từ đầu - từ phôi thai.
Còn cây con vô tính (cây được nhân giống từ cơ quan dinh dưỡng như cây ghép, cành chiết, cành giâm hoặc từ nuôi cây mô tế bào) không phải trải qua phát triển sinh sản mà tiếp tục các giai đoạn phát triển của nó. Vì vậy trong sản xuất cây ăn quả cũng 7 như cây lâu nàm người ta thường nhân giống võ tính dể cho cây sớm ra hoa kết quả, sớm cho thu hoạch, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trong sự phát triển của cây hữu tính cũng như cây vô tính, đi truyền và biến dị có ý nghĩa ỉớn. Bản chất của cơ thê truyền lại cho đời sau gọi là di truyền.
Cơ thể có bản chất mới phủ định bản chất eũ gọi là biến dị. Ví dụ: có một giống cây, trong quả của chúng có nhiều hạt, nhưng vì lý do nào đó trên cày xuất hiện những quả không hạt. Như vậy: bản chất khóng hạt đã phủ định bản chất có hạt. Đem nhân những cành mang quả không hạt sẽ có thể tạo được giống mới - giống có quả không hạt.
Đây là hiện tượng biển dị mầm (đột biến xảy ra ở các tế bào sinh dựỡng). Người tạ có thể dùng phương pháp gãy đột biến nhân tạo, với mục tiêu; chỉ làm thay đổi chút ít kiểu gen pợ bản của giống, các đặc tính cải thiện ậuợc bổ sung và tốn ít thời gian hơn rất nhiều so với phương pháp, lai tạo để cùng đạt được mục tiêu đã định. Các tác nhân gây đột biến có thể là các hóa chất: Colchicíne, Ethyl methyl Sulíonate (EMS), chiếu xạ tia X, a , cực tím. có thể xừ lý trên cành ghép, cành giâm, chồi, mô.
Đối với cây ãn quả, phần lớn đột biến tự nhiên được sử dụng trong công tác chọn giống. Ở những cây sinh sản dinh dưỡng, các đột biến xuất hiện ở các tế bào có thể đuợc truyền lại cho đcó sau bằng con đường sinh sản dinh dưỡng (nhân giống vô tính). 8 Đối với cây nhân giống vô tính, kết quả của việc nhân liên tục các cá thể từ một cây mẹ ban đầu tạo ra dòng vó tính. Nói cách khác: dòng vô tính là một tập hợp các cá thể đồng nhất về mặt di truyền có được từ một cá thể duy nhất bằng nhân giống vô tính.
Các cá thể trong quần thể này về thực chất có thể là thể khảm. Khác với dòng thuần, các cá thể trong dòng vô tính là đồng nhất (giống hệt nhau) nhưng vể bản chất di truyền có thể ở mức độ dị hợp tử cao. Đột biến mầm có tần số đột biến nói chung rất thấp (10‘* - 10'7). Thông thường chỉ những đột biến trội sẽ biểu hiên ở những mô dinh duỡng.
VI đột biến lặn có thể được biểu ]ộ trong điều kiện đồng hợp tử. Từ những đột biến mầm có thể chọn được những dòng vô tính mới (gọi là chọn lọc mắm). Cần số lượng lớn cây để quan sát và chọn lọc nghiêm khắc mới phát hiện được chồi (mầm) đột biến. Cần được tiến hành đểu đặn trong vườn cây kinh doanh.
Sự xuất hiện đột biến ở các tế bào sồma thường dẫn tới sự khỏng đồng đều về mặt di truyền của các mô. Đột biến sôma xảy ra trên các điểm sinh trường sẽ dẫn đến kết quả là bên cạnh những mô tạo thành các tế bào đột biến vẫn tồn tại những mô từ những tế bào bình thường ban dầu’ Cấu trúc đồng thời mó đột biến và mô bình thường khởi đầu gọi là thể khảm. Như vậy đột biến ở các tế bào dinh dưỡng được gọi là đột biến chồi sẽ gây nên các thể khảm. Sự chuyển hóa cấu trúc khảm về cấu trúc dồng nhất gọi là xử lý thể khảm và là thủ thuật quan trọng trong quá trình gây đột biến ở cây nhân giống vỏ tính.
Sự phát triển cá thể Trong quá trình phát triển cá thể cây ăn quả nhận được từ hạt trải qua các giai đoạn khác nhau hay là các thời kỳ khác rihau (I. - Giai đoạn phôi thai: được bắt đầu từ sự hợp nhất của tế bào sinh dục đực - cái và hoàn thành bởi sự xuất hiện lá thật ở hạt đang mọc.Đặc điểm của nó là dễ nhạy cảm với sự ihay đổi điều kiện môi trường. - Giai đoạn trưởng thành: bắt đầu từ khi ra lá thật đầu tiên đến khi bắt đầu ra quả ổn định. Thời gian dài ngắn tùy từng loại cây.
Nó có đặc điểm là dễ thích nghi với mối trường xung quanh. - Giai đoạn cho sản lượng: có đặc điểm là kích thước tán và rễ đạt mức tối đa, ra quả nhiều, Bản chất của nó ổn định ít bị thay đổi bởi điều kiện môi trường.