Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về ba kích trên thế giới 1. Nhân giống ba kích Việc đáp ứng đầy đủ và bền vững nguồn giống ba kích đang là yêu cầu cấp bách của sản xuất. Sản xuất giống ba kích hiện nay chủ yếu là phương pháp giâm cành có hệ số nhân giống thấp, chỉ đạt 0,6 lần/năm, chất lượng cây giống không cao.
Để cải thiện hệ số nhân giống cây ba kích, một số tác giả đã nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Tuy nhiên kết quả mà các tác giả thu được chưa thực sự khả quan, khi hiệu quả khử trùng chỉ đạt 32,8% mẫu sạch (He và cs., 2000), hệ số nhân cao nhất cũng chỉ đạt 6,0 chồi/mẫu cấy (Chen và cs. Đối với phương pháp nhân giống vô tính, sử dụng hom giống khỏe mạnh, cắt hom dài khoảng 25 cm có từ 2-3 mắt, sau đó nhúng vào dung dịch hormone sinh trưởng indole hoặc indole butyric acid đậm đặc 170 mg/l và cắm hom giống vào bầu đất. Sau khi trồng, tưới nước 2 lần/ngày sao cho độ ẩm khoảng 55-60%, chú ý che nắng cho hom giống để tránh ánh nắng trực tiếp.
Thường gây giống bằng phương pháp sinh sản vô tính bằng giâm cành, chọn dây to chắc của cây ba kích 2 năm tuổi, cắt lấy phần giữa dây, phần đầu quá non và phần đốt dài đều không phù hợp; khi trồng giữ lại hai mầm dài khoảng 15 cm, còn lại cắt hết lá. Trồng vào mùa xuân, thu, cắm nghiêng cách nhau 10 cm, độ sâu bằng 2/3 cành hom, cắm xong phủ đất lên đè chặt, sau đó đậy cỏ, tưới nước. Đợi mọc mầm, kịp thời trừ cỏ, quan sát nếu cần thiết phải dựng lều che nắng để duy trì độ ẩm khoảng 60%. Gây giống khoảng nửa năm đến 1 năm có thể trồng được (Zheng, 2014).
Chọn đất và đất trồng ba kích Đất vườn ươm thường chọn những nơi có độ dốc thoai thoải hoặc dưới sườn núi tương đối bằng phẳng. Loại bỏ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để e 4 giữ bóng mát, làm đất kỹ, để đất phong hóa hoàn toàn rồi mới vun thành luống. Nên chọn đất hướng Nam hoặc Đông Nam, dưới sườn núi rừng thưa, nhiều ánh sáng mặt trời, yêu cầu đất cát đỏ, vàng, tầng đất dày, màu mỡ, nhiều mùn, mới khai hoang. Không nên chọn đất mặt sườn phía bắc, bởi vì hướng bắc nhiệt độ khá thấp, dễ tổn thương, chết do sương giá, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống.
Mùa đông làm đất, trừ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để bóng mát khoảng 40-60%, làm đất sâu 40 cm, để qua đông phong hóa hoàn toàn, đến mùa xuân năm thứ hai, cày vỡ lại, làm ruộng bậc thang 0,8 - 1,0 m, đồng thời làm rãnh thoát nước. Ở giữa ruộng bậc thang, cứ 0,5 m đào một cái hố để bón phân xanh. Thời vụ trồng Ở Trung Quốc, ba kích được trồng từ hom thân. Cây ba kích ưa thích với loại đất hoàng thổ, nhiều mùn, tơi xốp, đủ nước, những khoảng rừng gỗ tạp, đốn bớt cây tạo những khu trồng có độ chiếu sáng 20-30%.
Mật độ trồng: Mỗi hố một gốc, mỗi mẫu Trung Quốc (tương đương 667 m2) trồng khoảng 3.000 gốc, khoảng cách trồng: cây cách cây 0,67 m (tương đương với 48. Nên trồng vào mùa xuân có mưa nhiều. Phân bón thì thường sử dụng tro là chủ yếu. Giai đoạn đầu chú ý tưới nước giữ ẩm, trồng 2-3 năm sau chú ý xới đất, diệt cỏ, xới đất không nên quá sâu, tránh tổn thương phần rễ, đồng thời chú ý vun đất, tránh hở gốc.
Trồng năm đầu tiên, để cây phát triển to khỏe, khi cây mọc 4-5 lá có thể bón phân một lần, sau đó không cần bón nữa. Mật độ trồng ba kích Một số tác giả đã theo dõi, đánh giá sự sinh trưởng và phát triển, so sánh sản lượng, hàm lượng tro và dịch chiết của ba kích ở giai đoạn 2 - 4 năm tuổi và tiến hành đo sắc ký lớp mỏng. Thí nghiệm với các mật độ trồng 35 × 30 cm, 35 × 50 cm và 35 × 70 cm. Kết quả cho thấy với khoảng cách 35 × 50 cm, mật độ 40.000 cây/ha, sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích tương đối thấp.
Khoảng cách thích hợp nhất để trồng ba kích là 35 × 30 cm, hốc sâu e 5 20 cm, mật độ 64.000 cây/ha, không những không ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng của cây, mà còn tăng sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích. Nghiên cứu này đã thông qua giám định kỹ thuật quốc gia, góp phần tăng sản lượng ba kích khô từ 2-3 lần lên 4.124 kg/ha (Wei và cs. Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng ba kích cao sản, đánh luống ruộng bậc thang theo đường thủy bình, độ rộng khoảng 1 m. Giữa luống cách 25-30 cm đào một hốc, sâu rộng khoảng 20 cm, nếu trồng trên đất bằng, khoảng cách giữa các hốc là 50 cm.
Trong một vài nghiên cứu khác, khoảng cách 30-50 cm 70 × 50 cm, đào một hốc, mỗi hốc trồng 1-2 cây, nếu cây giống nhiều có thể trồng mỗi hốc 2 cây để tăng tỷ lệ cây sống (Lan, 2010). Trong các nghiên cứu của Yao (2003), Lin (2012) và Chen Shunrang (2003) đã nghiên cứu mật độ 35. Nghiên cứu kỹ thuật trồng ba kích cao sản ở huyện Vĩnh Định, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc cho thấy với mật độ khoảng 32.000 cây/ha sau 5- 8 năm cho sản lượng ba kích khô 250-400 kg (Lin, 2012). Phân bón cho ba kích - Bón lót: Liang (1959) nghiên cứu trồng ba kích ở huyện Cao Cần, Quảng Đông, sử dụng tro cây cỏ và bùn hun làm phân bón lót với lượng 40.
Wei và cs (1992) sử dụng 24.000 kg phân bón thổ tạp hoặc tro cây cỏ, 1.600 kg canxi + mangan + photpho cho 1 hecta làm phân bón lót (Wei và cs. Trước khi trồng bón phân xanh, phân ủ, hoặc các loại phân hữu cơ khác làm phân bón lót vào các hốc đào sẵn, mỗi hecta bón khoảng 16. Có thể sử dụng 300 kg canxi, 650 kg phân đạm urê bón lót cho 1 ha (Lin, 2012). - Bón thúc: Wei và cs (1992) đã quan sát sự sinh trưởng và phát triển, so sánh sản lượng, hàm lượng tro và dịch chiết của ba kích 2-4 năm, và tiến hành đo sắc ký lớp mỏng.
Thông thường, đến năm thứ hai bắt đầu bón phân, hằng năm vào tháng 4-5 và tháng 9-10 mỗi mùa bón phân một lần. Kết quả thí nghiệm e 6 về phân bón cho thấy phân bón cho hiệu quả tốt nhất là 16.000 kg/ha “tro âm dương (tro cây cỏ trộn với vôi bột theo tỷ lệ 2:1)” mỗi mẫu với hàm lượng dinh dưỡng phong phú canxi, magie, photpho, kali khi so sánh với phân “canxi + magie + photpho”, phân chuồng, bã lạc, phân hỗn hợp (Wei và cs. Theo Chen Shunrang (2003), năm đầu tiên để cây phát triển khỏe mạnh có thể bón phân một lần khi cây ra 4-5 lá, sau đó không cần bón thêm. Khi mầm mọc 1-2 lá mới bắt đầu bón phân, chủ yếu dùng phân bón hữu cơ, như đất mùn, đất hun, phân lân superphosphate ủ phân xanh, cây cỏ đốt thành tro, các loại phân hỗn hợp mỗi mẫu 16.
Không được bón amoni sulfat, amoni clorua, nước tiểu lợn, nước tiểu bò. Nếu nơi đất trồng quá chua, có thể bón vôi bột, mỗi mẫu 800-960 kg/ha (Lan, 2010; Lin 2012; Chen, 2013). Sau khi trồng khoảng 1-2 năm, vào các tháng 4, 6, 9, tiến hành bón một lần phân bắc ủ với phân xanh, nhằm thúc tua và rễ phát triển. Ba năm sau chủ yếu bón đất hun và tro cây cỏ, mỗi năm bón 11.200 kg đất hun, 1.600 kg tro cho 1 ha (Yao, 2003).
Nghiên cứu về bệnh hại ba kích Do sự phân bố địa lý của ba kích khá hẹp, số lượng không nhiều, nên ít bị tác động bởi sâu, bệnh hại. Chỉ một số loài sâu, bệnh hại đã được ghi nhận trên cây ba kích ở Hawai như rệp muội, rệp sáp, kiến, nhện, bọ phấn, sên, tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp. và bệnh cờ đen do nấm Phytophthora gây ra. Ở tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây - Trung Quốc, nấm Fusarium oxysporium là tác nhân làm héo chết cây ba kích là một trong những bệnh hại chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển cũng như diện tích trồng cây ba kích ở Trung Quốc (Shi và Chi, 1988; Luo và Chen, 1989).
Cần điều tra thường xuyên, xác định sự xuất hiện và gây hại của bệnh, đặt biệt trong điều kiện thời tiết mưa kéo dài; tiến hành đốn tỉa, cắt bỏ cành, bộ phận bị bệnh để hạn chế nguồn bệnh lây lan, dọn sạch lá rụng, tàn dư cây bệnh, tạo điều kiện để cây thông thoáng, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và e 7 khoáng chất để cây sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng đề kháng của cây đối với bệnh. Ở Hawaii, bệnh cờ đen do nấm Phytophthora sp. gây ra là một trong những bệnh chính đối với ba kích. Bệnh thường gây hại nặng làm cho lá biến màu đen, héo, chết khô, cuống lá và thân biến màu đen gây ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng cây ba kích.
Biện pháp phòng trừ gồm: (i) kiểm tra định kỳ xác định sự xuất hiện và gây hại của bệnh đặc biệt trong điều kiện thời tiết mưa kéo dài, (ii) đốn tỉa cắt bỏ cành, bộ phận bị bệnh để hạn chế nguồn bệnh lây lan, dọn sạch là rụng, tàn dư cây bệnh, tạo điều kiện để cây thông thoáng, (iii) cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và khoáng chất để cây sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng đề kháng đối với bệnh hại (Nelson, 2003). Cũng tại Hawaii, loài tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. gây bệnh nghiêm trọng, gây thiệt hại trực tiếp cho rễ, xâm nhập sâu vào trong mô cây và tạo nên các nốt sưng ở rễ và gây vết thương cơ giới tạo điều kiện thuận lợi cho nấm và vi khuẩn xâm nhiễm vào rễ, làm cho rễ biến màu và thối. Trên lá, lá bị biến vàng và thường dễ nhầm lẫn với triệu chứng thiếu dinh dưỡng (đạm, can xi và sắt).
Để phòng trừ tuyến trùng, các biện pháp được khuyến cáo bao gồm: (i) không nhân giống cây ba kích trên đất đã bị nhiễm tuyến trùng, dụng cụ để cắt, ghép cần phải được khử trùng; (ii) bổ sung thành phần hữu cơ cho đất, tưới nước cho cây, chăm sóc hợp lý (Nelson và cs. Ở Trung Quốc, ba kích thường gặp một số bệnh như: bệnh mục thân, bồ hóng, đốm vòng… Bệnh mục thân/thối gốc thân (crown rot): Lúc thời tiết mưa dầm ẩm ướt lâu ngày, đất thoát nước không tốt dễ phát sinh. Biện pháp phòng trừ: Tăng cường quản lý hệ thống thoát nước đồng ruộng, ngăn ngừa thương tổn vì nguyên nhân bên ngoài.