Đề tài nghiên cứu khoa học biện pháp tổ chức hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên ngành cao đẳng giáo dục mầm non tại trường cao đẳng sư phạm

Đề tài nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm ngoài lớp học cho sinh viên cao đẳng giáo dục mầm non. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm mầm non.

Trường đại học

Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình

Chuyên ngành

Giáo dục Mầm non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2023

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Giới hạn nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở MÔI TRƯỜNG NGOÀI LỚP HỌC

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Nghề giáo viên mầm non

1.2.1. Khái niệm về nghề giáo viên mầm non

1.2.2. Đặc điểm lao động của nghề giáo viên mầm non

1.2.3. Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non

1.2.4. Các kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở MÔI TRƯỜNG NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH CĐGD MẦM NON TẠI TRƯỜNG CĐSP HOÀ BÌNH

2.1. Thực trạng đào tạo ngành CĐGD mầm non tại trường CĐSP Hoà Bình

2.2. Chương trình đào tạo ngành CĐGD mầm non

2.3. Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy

2.4. Công tác kiểm tra, đánh giá

2.5. Cơ sở vật chất. Quan hệ giữa các cơ sở sử dụng giáo viên mầm non và nhà trường

2.6. Hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ngoài môi trường lớp học của sinh viên ngành CĐGD mầm non trường CĐSP Hoà Bình

2.7. Thực trạng hoạt động học tập và trải nghiệm ngoài môi trường lớp học của sinh viên ngành CĐGD mầm non trường CĐSP Hoà Bình

2.8. Đánh giá thực trạng hoạt động học tập, trải nghiệm ngoài môi trường lớp học của sinh viên ngành CĐGD mầm non trường CĐSP Hoà Bình

2.9. Hạn chế và nguyên nhân

2.10. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở MÔI TRƯỜNG NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH CĐGD MẦM NON TRƯỜNG CĐSP HOÀ BÌNH

3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp

3.1.1. Đảm bảo mục tiêu giáo dục

3.1.2. Biện pháp phải đảm bảo tính khoa học

3.1.3. Đảm bảo tính vừa sức, phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của sinh viên

3.1.4. Đảm bảo tính thực tiễn

3.1.5. Định hướng đào tạo ngành CĐGD mầm non trường CĐSP Hoà Bình

3.2. Biện pháp nhằm nâng cao hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học của sinh viên ngành CĐGD mầm non trường CĐSP Hoà Bình

3.2.1. Xây dựng chương trình đào tạo

3.2.2. Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đổi mới trong đào tạo

3.2.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm

3.2.4. Bổ sung và chuẩn hóa cơ sở vật chất, cơ sở thực hành phục vụ công tác học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học

3.2.5. Đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa Nhà trường và đơn vị sử dụng giáo viên mầm non

3.2.6. Đa dạng hóa các hình thức học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên

3.2.7. Nâng cao ý thức chủ động cho sinh viên trong việc tự học tập theo hướng trải nghiệm ngoài môi trường lớp học

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hoạt Động Trải Nghiệm Ngoài Lớp Học HOT 58 ký tự

Tư tưởng giáo dục về hoạt động trải nghiệm đã có từ lâu, nhưng chỉ thực sự phát triển khi có nghiên cứu của các nhà tâm lý học và giáo dục học. Kurt Lewin nhấn mạnh sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. John Dewey đề cao vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục, kết nối kiến thức với thực tiễn. David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm. UNESCO cũng chú trọng học qua trải nghiệm sáng tạo. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "Học đi đôi với hành". Mặc dù được vận dụng trong nhiều loại hình trường, lý thuyết về hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn còn mới mẻ. Chính vì vậy tôi chọn vấn đề “Biện pháp tổ chức hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên ngành Cao đẳng giáo dục mầm non tại trường CĐSP Hoà Bình” làm đề tài nghiên cứu.

1.1. Lịch Sử Phát Triển của Tư Tưởng Giáo Dục Trải Nghiệm

Tư tưởng giáo dục trải nghiệm có nguồn gốc từ thời cổ đại, nhưng phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XIX và XX với các nhà tâm lý học và giáo dục học như Kurt Lewin, John Dewey và David Kolb. Kurt Lewin nhấn mạnh sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. John Dewey coi trọng kinh nghiệm trong giáo dục, kết nối kiến thức với thực tiễn. David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm, bao gồm kinh nghiệm cụ thể, quan sát phản chiếu, khái niệm hóa và thử nghiệm tích cực.

1.2. Hoạt Động Trải Nghiệm Sáng Tạo tại Việt Nam Hiện Nay

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "Học đi đôi với hành". Tuy nhiên, lý thuyết về hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn còn mới mẻ. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đưa ra khái niệm "Hoạt động trải nghiệm sáng tạo", giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Hiện nay đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về HĐTNST theo hướng tổng hợp lí thuyết, vận dụng HĐTNST trong dạy học một số môn học ở THPT, THCS hay tiểu học. Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Liên, Tưởng Duy Hải, Đinh Thị Kim Thoa

II. Tìm Hiểu Về Nghề Giáo Viên Mầm Non Đặc Điểm Cốt Lõi 57 ký tự

Nghề giáo viên mầm non là lĩnh vực hoạt động lao động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi. Giáo viên mầm non có tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý trẻ em, về phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Theo Điều lệ Trường Mầm non, giáo viên là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non là trẻ em dưới 6 tuổi, lứa tuổi bắt đầu hình thành nhân cách. Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non chính là nhân cách của bản thân người giáo viên.

2.1. Khái Niệm và Vai Trò của Giáo Viên Mầm Non

Giáo viên mầm non là người có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi. Họ cần có kiến thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý của trẻ, cũng như phương pháp giảng dạy phù hợp. Giáo viên mầm non không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn giúp trẻ hình thành nhân cách và phát triển toàn diện.

2.2. Đặc Điểm Lao Động Sư Phạm của Giáo Viên Mầm Non

Đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non là trẻ em dưới 6 tuổi, lứa tuổi bắt đầu hình thành nhân cách. Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non chính là nhân cách của bản thân người giáo viên. Ngôn ngữ của giáo viên mầm non là công cụ lao động độc đáo, là phương tiện giao tiếp và tổ chức hoạt động. Kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non bao gồm kỹ năng giao tiếp, tổ chức, quan sát và đánh giá.

2.3. Công Cụ Lao Động Của Giáo Viên Mầm Non

Công cụ lao động sư phạm của GVMN chính là nhân cách của bản thân người giáo viên. Thứ nhất, hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp…chính là công cụ lao động cần thiết của người giáo viên mầm non. Người GVMN sử dụng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tác động đến trẻ một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, có phương pháp, qua đó giúp trẻ phát triển về mọi mặt. Thứ hai, những phẩm chất đạo đức của cô giáo mầm non có ảnh hưởng đến trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi sinh hoạt của trẻ.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hoạt Động Trải Nghiệm Bí Quyết 59 ký tự

Để nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm ngoài lớp học cho sinh viên cao đẳng giáo dục mầm non, cần chú trọng đến các yếu tố như: xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, phát triển đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm, tăng cường kiểm tra đánh giá, bổ sung cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác với các đơn vị sử dụng giáo viên mầm non. Đồng thời, cần đa dạng hóa các hình thức học tập trải nghiệm và nâng cao ý thức chủ động cho sinh viên.

3.1. Xây Dựng Chương Trình Đào Tạo Hướng Đến Trải Nghiệm

Chương trình đào tạo cần được thiết kế sao cho sinh viên có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế. Điều này có thể bao gồm các buổi tham quan, dã ngoại, thực tập tại các trường mầm non, hoặc tham gia các dự án cộng đồng. Chương trình cũng cần tích hợp các môn học về kỹ năng tổ chức hoạt động, quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn.

3.2. Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Chuyên Nghiệp

Đội ngũ giảng viên cần được bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng tổ chức hoạt động trải nghiệm. Họ cần có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực giáo dục mầm non và có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ sinh viên. Ngoài ra, giảng viên cũng cần được khuyến khích tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức mới.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Kinh Nghiệm Tổ Chức Thành Công 54 ký tự

Nghiên cứu cho thấy rằng, việc áp dụng các biện pháp trên đã mang lại những kết quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm cho sinh viên. Sinh viên trở nên tự tin hơn, có kỹ năng làm việc nhóm tốt hơn và có khả năng ứng phó với các tình huống thực tế. Các cơ sở giáo dục mầm non cũng đánh giá cao năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

4.1. Mô Tả Các Hoạt Động Trải Nghiệm Cụ Thể và Hiệu Quả

Cần triển khai các hoạt động trải nghiệm như tổ chức các trò chơi dân gian, hoạt động nghệ thuật, hoạt động khoa học và hoạt động khám phá thiên nhiên. Sinh viên cũng có thể tham gia các dự án cộng đồng, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn hoặc tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ cho trẻ em.

4.2. Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu về Hiệu Quả Trải Nghiệm

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, sinh viên tham gia hoạt động trải nghiệm có kỹ năng sư phạm tốt hơn, tự tin hơn và có khả năng ứng phó với các tình huống thực tế tốt hơn so với sinh viên không tham gia. Các cơ sở giáo dục mầm non cũng đánh giá cao năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

4.3. Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra Giám Sát

Nhà trường cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm. Hình thức học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên. Nâng cao ý thức chủ động cho sinh viên trong việc tự học tập theo hướng trải nghiệm ngoài môi trường lớp học.

V. Tương Lai Hoạt Động Trải Nghiệm Đổi Mới Phát Triển 56 ký tự

Trong tương lai, hoạt động trải nghiệm ngoài lớp học cho sinh viên cao đẳng giáo dục mầm non cần tiếp tục được đổi mới và phát triển theo hướng: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng hợp tác quốc tế và chú trọng đến các vấn đề xã hội. Điều này sẽ giúp sinh viên có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

5.1. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin trong Hoạt Động Trải Nghiệm

Ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm, ứng dụng hỗ trợ giáo dục để tạo ra các hoạt động trải nghiệm thú vị và hấp dẫn hơn. Sinh viên có thể sử dụng các công cụ trực tuyến để tìm kiếm thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác với nhau.

5.2. Mở Rộng Hợp Tác Quốc Tế và Giao Lưu Văn Hóa

Nhà trường cần mở rộng hợp tác quốc tế với các trường cao đẳng, đại học và các tổ chức giáo dục mầm non trên thế giới. Điều này sẽ giúp sinh viên có cơ hội giao lưu văn hóa, học hỏi kinh nghiệm và mở rộng kiến thức.

28/04/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học biện pháp tổ chức hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên ngành cao đẳng giáo dục mầm non tại trường cao đẳng sư phạm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở MÔI TRƯỜNG NGOÀI LỚP HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Từ cuối thế kỉ XIX, xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới là mô hình về nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt Lewin.

Lewin nhấn mạnh tới sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành. Ông thấy rằng, việc học có thể đạt hiệu quả tối đa khi có mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh nghiệm cá nhân và việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Nhắc đến học thuyết giáo dục trải nghiệm, phải nhắc đến quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” của John Deway. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò kinh nghiệm, từ giữa thế kỉ XX, ông đã đưa ra được quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.

Ông cũng chỉ ra rằng, kinh nghiệm giúp nâng cao hiệu quả của giáo dục bằng cách kết nối người học, kiến thức học với thực tiễn cuộc sống, vì thế cần đưa các loại bài tập như nghề làm vườn, dệt, mộc. vào nhà trường. David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm. Theo ông, các bước của học tập trải nghiệm bao gồm kinh nghiệm cụ thể, quan sát phản chiếu, khái niệm hóa và thử nghiệm tích cực.

Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad .Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – lí thuyết và vận dụng trong dạy học tiểu học Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren. Đối với các nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, HĐTN được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực Châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đã được Hồng Kông áp dụng thông qua việc dạy học qua hoạt động tham quan, dã ngoại. Tư tưởng này tiếp tục phát triển ở các nước Châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc.Dạy học trải nghiệm sáng tạo có một bước 13 tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình “Dạy học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua.

Trong chương trình này có phần quan trọng về học qua trải nghiệm sáng tạo. Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.” Mặc dù cũng đã được vận dụng trong nhiều loại hình trường, song lí thuyết về hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn còn vô cùng mới mẻ. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ra đời, trong đó xuất hiện khái niệm mới “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”. Trong dự thảo nêu rõ, theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 thì các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo được cấu trúc thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông.

HĐTNST dành cho tất cả các học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 giúp học sinh vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về HĐTNST trong thời gian gần đây theo hướng tổng hợp lí thuyết, vận dụng HĐTNST trong dạy học một số môn học ở THPT, THCS hay tiểu học. Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Liên, Tưởng Duy Hải, Đinh Thị Kim Thoa. Có thể nói, mặc dù hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã xuất hiện và phát triển từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam thì đây vẫn còn là một hình thức mới mẻ, đang trên đường khẳng định dần vị thế của mình trong giáo dục bởi tính tích cực của nó.

Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm nói chung. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu hoạt động trải nghiệm trong đào tạo giáo viên mầm non tại các trường CĐSP chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến. Chính vì vậy tôi chọn vấn đề “Biện pháp tổ chức hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên ngành Cao đẳng giáo dục mầm non tại trường CĐSP Hoà Bình” làm đề tài nghiên cứu. Nghề giáo viên mầm non 1.

Khái niệm về nghề giáo viên mầm non. Nghề giáo viên là một lĩnh vực hoạt động lao động trong hệ thống giáo dục quốc dân. Sau khi được đào tạo ở các trường, khoa sư phạm, sinh viên có được những tri thức và kỹ năng nhất định để có thể trở thành giáo viên và có thể tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Nghề giáo viên mầm non là lĩnh vực hoạt động lao động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi.

Nhờ được đào tạo, giáo viên mầm non có được những tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý trẻ em, về phương pháp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người mới trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá. Theo Điều lệ Trường Mầm non, Bộ giáo dục và đào tạo ban hành quy định thì: “Giáo viên trong các cơ sở GDMN là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập”. Đặc điểm lao động của nghề giáo viên mầm non. Đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non.

Bất cứ loại hình lao động nào cũng có đối tượng tác động. Hoạt động lao động sư phạm của GVMN có đối tượng rất đặc biệt – trẻ em dưới 6 tuổi, là lứa tuổi bắt đầu hình thành nhân cách, phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo đức con người. Trẻ em dưới 6 tuổi là lứa tuổi non nớt nhất của cuộc đời mỗi con người. Tuy nhiên đây cũng là giai đoạn phát triển với tốc độ nhanh về mọi mặt, là thời kỳ quan trọng đặt tiền đề ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mai sau.Trẻ em tuổi mầm non cơ thể yếu ớt, sức đề kháng kém, tốc độ tăng trưởng và phát triển diễn ra rất nhanh cả về thể chất và tâm lý do đó sự phát triển của trẻ chủ yếu phụ thuộc vào việc chăm sóc giáo dục của người lớn.

Việc tiếp thu tri thức (kinh nghiệm xã hội) của trẻ chủ yếu bằng con đường vô thức. Do đó trong quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao tiếp của trẻ đòi hỏi sự mẫu mực về nhân cách của cô (người lớn). Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non. Công cụ lao động sư phạm của GVMN chính là nhân cách của bản thân người giáo viên.

Thứ nhất, hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp…chính là công cụ lao động cần thiết của người giáo viên mầm non. Người GVMN sử dụng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tác động đến trẻ một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, có phương pháp, qua đó giúp trẻ phát triển về mọi mặt. Thứ hai, những phẩm chất đạo đức của cô giáo mầm non có ảnh hưởng đến trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi sinh hoạt của trẻ. Từ những hành vi, cử chỉ, lời nói, thói quen, nề nếp làm việc đến cách đối nhân xử thế của giáo viên đều được trẻ bắt chước, trẻ tiếp nhận kinh nghiệm xã hội và tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh bằng con đường bắt chước là một trong những phương thức học tập chủ yếu của trẻ mầm non.

Vì thế cô giáo mầm non phải không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình. Thứ ba, ngôn ngữ của giáo viên mầm non là công cụ lao động độc đáo. Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà ngôn ngữ còn là phương tiện quan trọng để tổ chức, dẫn dắt trẻ tham gia vào các hoạt động, để tiếp thu tri thức, điều chỉnh hành vi, thói quen của trẻ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực xã hội. Ngoài ra còn phải kể đến các công cụ mang tính vật chất như đồ chơi, đồ dùng dạy học và các trang thiết bị kỹ thuật…Đây là những công cụ không thể thiếu được để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ.

Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, tin học đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều phương tiện vật chất hiện đại đã được đưa vào trường MN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Đồ chơi của trẻ ngày càng phong phú, đa dạng về thể loại, chất liệu, đẹp về màu sắc, có tác dụng kích thích sự phát triển nhiều mặt của trẻ. 16 Để đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên mầm non không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, hoàn thiện nhân cách, có ý thức tự học, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại. Các kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non.

Kĩ năng nghề của giáo viên mầm non là khả năng người giáo viên vận dụng kiến thức và kĩ năng có được để thực hiện hành động dạy học và giáo dục có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện cụ thể. Kĩ năng nghề của giáo viên mầm non không chỉ khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình dạy học và giáo dục toàn diện, mà còn là khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của trẻ. Kĩ năng sư phạm là một thành phần quan trọng tạo nên năng lực sư phạm của cá nhân, đảm bảo cho người giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quả trong hoạt động sư phạm. Kĩ năng sư phạm luôn gắn với hoạt động sư phạm của người giáo viên bao gồm cả việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn sức khỏe cho trẻ; việc dạy học và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ