CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở MÔI TRƯỜNG NGOÀI LỚP HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Từ cuối thế kỉ XIX, xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới là mô hình về nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt Lewin.
Lewin nhấn mạnh tới sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành. Ông thấy rằng, việc học có thể đạt hiệu quả tối đa khi có mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh nghiệm cá nhân và việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Nhắc đến học thuyết giáo dục trải nghiệm, phải nhắc đến quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” của John Deway. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò kinh nghiệm, từ giữa thế kỉ XX, ông đã đưa ra được quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Ông cũng chỉ ra rằng, kinh nghiệm giúp nâng cao hiệu quả của giáo dục bằng cách kết nối người học, kiến thức học với thực tiễn cuộc sống, vì thế cần đưa các loại bài tập như nghề làm vườn, dệt, mộc. vào nhà trường. David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm. Theo ông, các bước của học tập trải nghiệm bao gồm kinh nghiệm cụ thể, quan sát phản chiếu, khái niệm hóa và thử nghiệm tích cực.
Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad .Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – lí thuyết và vận dụng trong dạy học tiểu học Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren. Đối với các nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, HĐTN được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực Châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đã được Hồng Kông áp dụng thông qua việc dạy học qua hoạt động tham quan, dã ngoại. Tư tưởng này tiếp tục phát triển ở các nước Châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc.Dạy học trải nghiệm sáng tạo có một bước 13 tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình “Dạy học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua.
Trong chương trình này có phần quan trọng về học qua trải nghiệm sáng tạo. Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.” Mặc dù cũng đã được vận dụng trong nhiều loại hình trường, song lí thuyết về hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn còn vô cùng mới mẻ. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ra đời, trong đó xuất hiện khái niệm mới “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”. Trong dự thảo nêu rõ, theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 thì các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo được cấu trúc thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông.
HĐTNST dành cho tất cả các học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 giúp học sinh vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về HĐTNST trong thời gian gần đây theo hướng tổng hợp lí thuyết, vận dụng HĐTNST trong dạy học một số môn học ở THPT, THCS hay tiểu học. Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Liên, Tưởng Duy Hải, Đinh Thị Kim Thoa. Có thể nói, mặc dù hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã xuất hiện và phát triển từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam thì đây vẫn còn là một hình thức mới mẻ, đang trên đường khẳng định dần vị thế của mình trong giáo dục bởi tính tích cực của nó.
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm nói chung. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu hoạt động trải nghiệm trong đào tạo giáo viên mầm non tại các trường CĐSP chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến. Chính vì vậy tôi chọn vấn đề “Biện pháp tổ chức hoạt động học tập theo hướng trải nghiệm ở môi trường ngoài lớp học cho sinh viên ngành Cao đẳng giáo dục mầm non tại trường CĐSP Hoà Bình” làm đề tài nghiên cứu. Nghề giáo viên mầm non 1.
Khái niệm về nghề giáo viên mầm non. Nghề giáo viên là một lĩnh vực hoạt động lao động trong hệ thống giáo dục quốc dân. Sau khi được đào tạo ở các trường, khoa sư phạm, sinh viên có được những tri thức và kỹ năng nhất định để có thể trở thành giáo viên và có thể tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Nghề giáo viên mầm non là lĩnh vực hoạt động lao động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi.
Nhờ được đào tạo, giáo viên mầm non có được những tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý trẻ em, về phương pháp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người mới trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá. Theo Điều lệ Trường Mầm non, Bộ giáo dục và đào tạo ban hành quy định thì: “Giáo viên trong các cơ sở GDMN là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập”. Đặc điểm lao động của nghề giáo viên mầm non. Đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non.
Bất cứ loại hình lao động nào cũng có đối tượng tác động. Hoạt động lao động sư phạm của GVMN có đối tượng rất đặc biệt – trẻ em dưới 6 tuổi, là lứa tuổi bắt đầu hình thành nhân cách, phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo đức con người. Trẻ em dưới 6 tuổi là lứa tuổi non nớt nhất của cuộc đời mỗi con người. Tuy nhiên đây cũng là giai đoạn phát triển với tốc độ nhanh về mọi mặt, là thời kỳ quan trọng đặt tiền đề ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mai sau.Trẻ em tuổi mầm non cơ thể yếu ớt, sức đề kháng kém, tốc độ tăng trưởng và phát triển diễn ra rất nhanh cả về thể chất và tâm lý do đó sự phát triển của trẻ chủ yếu phụ thuộc vào việc chăm sóc giáo dục của người lớn.
Việc tiếp thu tri thức (kinh nghiệm xã hội) của trẻ chủ yếu bằng con đường vô thức. Do đó trong quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao tiếp của trẻ đòi hỏi sự mẫu mực về nhân cách của cô (người lớn). Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non. Công cụ lao động sư phạm của GVMN chính là nhân cách của bản thân người giáo viên.
Thứ nhất, hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp…chính là công cụ lao động cần thiết của người giáo viên mầm non. Người GVMN sử dụng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tác động đến trẻ một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, có phương pháp, qua đó giúp trẻ phát triển về mọi mặt. Thứ hai, những phẩm chất đạo đức của cô giáo mầm non có ảnh hưởng đến trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi sinh hoạt của trẻ. Từ những hành vi, cử chỉ, lời nói, thói quen, nề nếp làm việc đến cách đối nhân xử thế của giáo viên đều được trẻ bắt chước, trẻ tiếp nhận kinh nghiệm xã hội và tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh bằng con đường bắt chước là một trong những phương thức học tập chủ yếu của trẻ mầm non.
Vì thế cô giáo mầm non phải không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình. Thứ ba, ngôn ngữ của giáo viên mầm non là công cụ lao động độc đáo. Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà ngôn ngữ còn là phương tiện quan trọng để tổ chức, dẫn dắt trẻ tham gia vào các hoạt động, để tiếp thu tri thức, điều chỉnh hành vi, thói quen của trẻ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực xã hội. Ngoài ra còn phải kể đến các công cụ mang tính vật chất như đồ chơi, đồ dùng dạy học và các trang thiết bị kỹ thuật…Đây là những công cụ không thể thiếu được để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, tin học đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều phương tiện vật chất hiện đại đã được đưa vào trường MN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Đồ chơi của trẻ ngày càng phong phú, đa dạng về thể loại, chất liệu, đẹp về màu sắc, có tác dụng kích thích sự phát triển nhiều mặt của trẻ. 16 Để đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên mầm non không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, hoàn thiện nhân cách, có ý thức tự học, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại. Các kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non.
Kĩ năng nghề của giáo viên mầm non là khả năng người giáo viên vận dụng kiến thức và kĩ năng có được để thực hiện hành động dạy học và giáo dục có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện cụ thể. Kĩ năng nghề của giáo viên mầm non không chỉ khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình dạy học và giáo dục toàn diện, mà còn là khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của trẻ. Kĩ năng sư phạm là một thành phần quan trọng tạo nên năng lực sư phạm của cá nhân, đảm bảo cho người giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quả trong hoạt động sư phạm. Kĩ năng sư phạm luôn gắn với hoạt động sư phạm của người giáo viên bao gồm cả việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn sức khỏe cho trẻ; việc dạy học và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non.