Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu hoạt động giáo dục đạo đức trên Thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Đạo đức là một vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu của các nhà triết học trên thế giới. Rabơlen (1494-1553), nhà tư tưởng giáo dục thời kỳ Phục hưng và là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp thì giáo dục phải bao hàm cả “Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và ông đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học tập ở lớp, ở nhà, ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và học trò về sống ở nông thôn một ngày.
[11] Những nhà triết học duy vật từ cổ đại đến L. Phoiơbắc (1804 – 1872) xem lĩnh vực nghiên cứu của đạo đức học là các quan hệ của con người với con người trong cách ứng xử xã hội. Đó là các quan hệ về gia đình, làng xóm, vua tôi, cha con, bạn bè, tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc.8] Các phẩm chất đạo đức của con người được C. Ăngghen quan tâm sâu sắc trong các lý thuyết về đạo đức của mình qua các tác phẩm như: Gia đình thần thánh, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Chống Dduyyrrinh, Lutsvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức,… khi bác bỏ lý luận duy tâm coi đạo đức đứng trên và đứng ngoài lịch sử, C.
Ăngghen đã coi phạm vi nghiên cứu của đạo đức học gắn với sự vận động của hiện thực, gắn với lợi ích giai cấp và lợi ích của xã hội.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. [13] Macarenco trong “Bài ca sư phạm” đã khái quát các vấn đề giáo dục người công dân, ông đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, nguyên tắc giáo dục là “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể”. Ông kết luận “Nhiệm vụ giáo dục của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể”. Điều đó có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quan XHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người mới XHCN để phân biệt với con người của giai cấp bóc lột – con người ích kỷ, cá nhân.
261] Smith (2014), cho rằng đạo đức luôn đi đôi với tập hợp những hành vi của con người, nơi mà giá trị đạo đức mang tính cá nhân và riêng tư mà tạo hóa ban tặng. Sự chấp nhận của xã hội tại nơi làm việc là một yếu tố quan trọng để chúng ta tiếp cận vào các cơ hội học tập. [31] Như vậy, có thể thấy rằng việc giáo dục đạo đức học sinh ở các quốc gia tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi nước. Tuỳ thuộc vào tình hình khinh tế, vị trí địa lý, văn hoá mà mỗi nước có cách giáo dục khác nhau, bằng nhiều hình thức và nhiều phương pháp khác nhau.
Tuy nhiên, việc giáo dục vẫn dựa trên tình yêu thương, sự cảm thông và chia sẻ của các lực lượng giáo dục đến đối tượng cần giáo dục, để hoàn thiện và phát triển nhân cách con người. Việt Nam Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Mẫu người lý tưởng mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là mẫu người "vừa hồng, vừa chuyên". Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn phong phú về mối quan hệ giữa tài và đức trong việc giáo dục, đào tạo, rèn luyện và sử dụng con người.
Luôn 8 luôn gắn liền giữa tài với đức. Người thường dùng từ ghép: “bậc tài đức”, “kẻ hiền năng”, “tài khác nhau nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”. Giữa tài và đức thì Hồ Chí Minh, đức là gốc, là nền tảng. “Có tài phải có đức, tham ô, hủ hóa có hại cho nước”.
“Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những chẳng làm gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa”. 65-66] Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này. Trong những năm 60, 70 của thế kỉ trước nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong nước đã được công bố từ góc độ tâm lí học, giáo dục học. Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và trường Đại học sư phạm Hà Nội đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác.
Để đi đến các quan niệm và các giải pháp về giáo dục đạo đức, các tác giả đã lực chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra sự đa dạng, phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề: “Tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh”. 30] Phạm Tất Dong, trong đề tài mang mã số NN7 “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Đề tài đã nghiên cứu về nhân cách nói chung và về giáo dục đạo đức, chính trị tư tưởng ở tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Phạm Khắc Chương (1995), “Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và giảng dạy đạo đức ở trung học phổ thông”, Vụ giáo viên. [23] Phạm Minh Hạc trong cuốn “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, cùng một số tác giả khác đã bàn về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời nêu lên những mục tiêu và đưa ra 9 những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [12] Tác giả Thái Duy Tuyên đã đánh giá về thực trạng và tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận học sinh trong nghiên cứu “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại”. Tác giả kết luận: Đạo đức học sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đồng thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về giáo dục đạo đức.
[16] Ngoài ra còn có một số tạp chí, luận án tiến sỹ, đề tài thạc sỹ nghiên cứu vấn đề đạo đức, nhân cách học sinh sinh viên như: Nguyễn Oanh Kiều (2014), “GDĐĐ, hoàn thiện nhân cách để con người Việt Nam thật sự trở thành động lực cho sự phát triển”. tác giả đề cập đến vấn đề GDĐĐ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường xã hội, quan hệ xã hội và hoàn thiện nhân cách con người. Qua đó, có những giải pháp khả thi khi thực hiện chiến lược xây dựng con người như: Nâng cao chất lượng giáo dục, chú trọng GDĐĐ trong nhà trường; Nâng cao chất lượng của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; Chú trọng xây dựng gia đình văn hóa; Tiếp tục phát huy sâu rộng phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…[24, tr. 63 – 67] Mai Thị Dung (2013), “Về lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay”.
Lối sống là cách thức sống, phương thức sống của con người trong một số chế độ xã hội nhất định, được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như lao động sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa, tinh thần và giao tiếp thường ngày. Để từ đó, định hướng lối sống mới cho thế hệ trẻ hiện nay thông qua việc: Xây dựng tình yêu quê hương, đất nước; Xây dựng lối sống vì cộng đồng có tinh thần trách nhiệm cao với bản thân, gia đình và xã hội. Xây dựng lối ứng xử có văn hóa trong cuộc sống… [9, tr. 84 - 92] Luận án tiến sỹ “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay” của tác giả Đỗ Tuyết Bảo đã tái hiện lại bức tranh đạo đức của học sinh sau 10 năm đổi mới.
Bài 10 viết đã chỉ ra nhà trường phổ thông phải giáo dục và rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ để khi trưởng thành, các em là những nhân cách trung thực, sáng tạo, vị tha, bao dung, nhân ái, trở thành những công dân hữu ích cho đất nước mình và để thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh THCS, nhà giáo phải thấu hiểu những đặc điểm và yêu cầu của giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông [8]. Tác giả Hoàng Trung Thắng “GDĐĐ cho sinh viên sư phạm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” đăng trên tạp chí Giáo dục số 338 kì I – 8/2014. Tác giả đã nêu ra những tồn tại, bất cập, trong đó quan điểm tiếp cận đạo đức và GDĐĐ chưa đáp ứng yêu cầu chung. GDĐĐ cho sinh viên sư phạm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cần đạt được những giá trị cốt lõi: cần, kiệm, liêm, chính,.
Thiết thực nên ai cũng có thể làm theo.[18] Tác giả Lê Duy Hùng “GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” được đăng trên tạp chí khoa học ĐH Sư phạm TP. Tác giả đã nêu ra thực trạng hành vi vi phạm đạo đức của học sinh THPT. Từ thực trạng đó, tác giả đã tìm hiểu những nguyên nhân, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS.