Chương 1. Lý luận chung về công tác quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Thực trạng về công tác quản lý và sử dụng vốn tại Công ty cổ phần vận tải xăng dầu VIPCO giai đoạn 2011- 2015 Chương 3. Phương hướng và biện pháp tăng cường công tác quản lý và sử dụng vốn tại Công ty cổ phần vận tải xăng dầu VIPCO giai đoạn 2016- 2020.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vốn, cụ thể như sau: Theo quan điểm của Marx, “vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Theo các nhà kinh tế cổ điển, vốn là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh, theo quan niệm này thì vốn là một cái gì đó ban đầu để giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra được. Khái niệm này đơn giản, dễ hiểu. Tuy nhiên còn nhiều hạn chế là chưa nói lên được phần vốn tài chính, đây là một nội dung cơ bản của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được nhìn nhận như sau: “vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp” [5].
Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong khu vực sản xuất mà bao gồm toàn bộ mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Một số quan điểm cho rằng vốn gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình các kiến thức về kinh tế của doanh nghiệp tích luỹ sử khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp các lợi thế về cạch tranh như vị trí của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp ….Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai 5 thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên xác định vốn theo quan điểm này là rất khó khăn và phức tạp nhất là khi trình độ quản lý ở nước ta còn chưa cao và khung luật pháp chưa hoàn chỉnh. Ngoài ra, khi đề cập đến vốn trong doanh nghiệp, người ta còn đưa ra một khái niệm nữa, đó là: “Vốn là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời” [5].
Nói cách khác, để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có một lượng giá trị ứng trước để mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa, thuê mướn nhân công… Giá trị những tài sản hàng hóa nằm trong quá trình này gọi là vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh thể hiện năng lực tài chính của doanh nghiệp. Do đó, vốn cần phải được bảo toàn và phát triển. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Theo các quan điểm về vốn ở trên thì ta thấy rằng mỗi quan điểm đều có những điểm nêu lên được và chưa được về vốn. Chính vì vậy ta thấy rằng khái niệm về vốn phải nêu lên được 4 vấn đề cơ bản sau: - Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh và một bộ phận của nền kinh tế, là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. - Trạng thái của vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh điều này rất có ý nghĩa đối với công tác quản lý vốn kinh doanh có hiệu quả. - Nêu được mối quan hệ giữa vốn với các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Điều này có ý nghĩa trong việc sử dụng vốn làm sao cho có hiệu quả nhất. - Phải nêu lên được mục đích quản lý và sử dụng vốn là tìm kiếm lợi ích kinh tế,lợi ích xã hội mà vốn đem lại,vấn đề này được định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung và quá trình quản lý vốn của doanh nghiệp nói riêng Từ những đặc điểm về vốn nói trên ta sẽ đi đến một khái niệm về vốn : Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài sản tài chính được các cá nhân các tổ chức các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằn tối đa hoá lợi ích. 6 Như ở trên ta mới xem xét khái niệm chung về vốn, còn đối với doanh nghiệp thì vốn ở đây ta hiểu là vốn kinh doanh vì doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình để nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, chính vì vậy khái niệm về vốn kinh doanh có những đặc điểm khác so với vốn nói chung mà ta đã tìm hiểu ở trên , vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải có những đặc điểm sau: - Là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. - Vốn có giá trị (trao đổi mua bán), có giá trị sử dụng.
- Khi than gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vốn phải luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian. Dưới góc độ pháp luật thì vốn của doanh nghiệp là căn cứ đầu tiên để xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp nó quyết định đến việc thành lập hay phá sản của một doanh nghiệp về mặt pháp lý. Các đặc trưng cơ bản của vốn Thứ nhất, vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định: Điều này có nghĩa là vốn biểu hiện cho những tài sản hữu hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị…; tài sản vô hình như: nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm. Với tư cách này, các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì không bị mất đi mà thu hồi được giá trị.
Thứ hai, vốn được vận động và sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng chỉ ở dạng tiềm năng của vốn. Để biến vốn thành tiền thì tiền đó phải được vận động và sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể biểu hiện dưới nhiều hình thái nhưng điểm cuối cùng của chu kỳ phải là giá trị, là tiền và có giá trị lớn hơn điểm bắt đầu. Đây chính là nguyên lý đầu tư sử dụng và bảo toàn vốn.
Thứ ba, vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh: 7 Khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì vốn phải đạt đến một lượng nhất định để mua sắm máy móc thiết bị, đất đai, nguyên vật liệu. Để làm được điều này các doanh nghiệp không chỉ khai thác vốn của mình mà còn phải tìm cách huy động vốn từ nhiều nguồn cung ứng vốn khác như : vốn vay, vốn liên doanh, liên kết, cổ phần hóa. Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị lớn hơn đồng vốn ngày hôm sau. Điều này là do đồng tiền còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: chính trị, rủi ro, lạm phát.
do đó mà sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. Thứ năm, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Mỗi một đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất định, nghĩa là không có đồng vốn vô chủ, ở đâu có vốn vô chủ ở đó sẽ có sự chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Ở đây có sự phân biệt giữa quyền chủ sở hữu và quyền sử dụng vốn, tùy theo hình thức đầu tư mà người đầu tư và người sử dụng có thể đồng nhất hay tách rời. Song dù ở trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sử dụng vốn của mình.
Có thể nói đây là nguyên tắc quan trọng trong việc quản lý và sử dụng vốn, nó cho phép huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh. Nhận thức được đặc trưng này có thể giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn. Thứ sáu, vốn được quan niệm như một loại hàng hóa và là một loại hàng hóa đặc biệt : Những người có vốn và có thể đưa vốn vào thị trường, những người không có vốn thì có thể đến thị trường này để vay, mượn. để được sử dụng vốn.
Khi đó vốn được gọi là vốn vay. Như vậy khác với hàng hóa thông thường là khi bán đi người chủ sẽ mất quyền sở hữu, quyền sử dụng, còn đối với vốn thì khi cho vay người chủ không những không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng, bù lại họ được nhận một khoản tiền được gọi là lãi suất. Việc vay mượn này tuân theo quy luật cung - cầu của thị trường. 8 Thứ bảy, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình, mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình: Tài sản vô hình của doanh nghiệp có thể là vị trí địa lý, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng chế, các bí quyết về công nghệ.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Phân loại vốn của doanh nghiệp 1. Căn cứ theo nguồn hình thành vốn Thứ nhất, vốn chủ sở hữu: Là số tiền vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp, số vốn này không phải là một khoản nợ. Doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất.
Vốn chủ sở hữu được xác định là phần còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả tuỳ theo loại hình doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách khác nhau, thông thường nguồn vốn này bao gồm: - Vốn góp: là số vốn đóng góp của các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh.