CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN 1. Ngân sách Nhà nước và vai trò của NSNN 1. Khái niệm NSNN Ngân sách nhà nước là một khái niệm đã có từ lâu đời. Thời xưa NSNN còn được gọi là ngân khố hay quốc khố.
Đây là một thành phần không thể thiếu trong hệ thống tài chính và được sử dụng rộng rãi, phổ biến trên mọi quốc gia ngày nay. Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất cho khái niệm “Ngân sách nhà nước”, tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Ví dụ như các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia [22]. Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [9, tr.
Hệ thống NSNN Ngân sách nhà nước là một tổng thể hoàn chỉnh gồm nhiều cấp ngân sách khác nhau, liên hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi cấp ngân sách. Ngân sách nhà nước gồm có NSTW và NSĐP. Trong đó Ngân sách địa phương bao gồm: - Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là Ngân sách cấp tỉnh). - Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là Ngân sách cấp huyện).
- Ngân sách cấp xã, thị trấn (gọi là Ngân sách cấp xã). Hệ thống ngân sách nhà nước có thể được mô tả như sau: 6 Hình 1. Sơ đồ hệ thống ngân sách Nhà nước Việc phân chia đất nước thành nhiều cấp chính quyền là yêu cầu tất yếu trong quá trình điều hành, quản lý đất nước. Và để hệ thống này có thể hoạt động một cách hiệu quả thì mỗi cấp chính quyền cần có một NS riêng để chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên địa bàn quản lý.
Như vậy có thể thấy việc phân chia hệ thống NSNN thành nhiều cấp là dựa trên sự phân chia của các cấp chính quyền Nhà nước. Ngân sách địa phương là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của chính quyền địa phương. NSĐP là nguồn lực để chính quyền địa phương thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội, cùng với ngân sách trung ương góp phần phát triển kinh tế của cả nước. Nhiệm vụ của NSĐP là đảm bảo sự vận hành và hoạt động ổn định của bộ máy chính quyền ở địa phương, từ đó góp phần tạo nên sự ổn định và phát triển bền vững cho cả quốc gia.
NS cấp huyện là một bộ phận của NSĐP, có nhiệm vụ duy trì, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động của bộ máy Nhà nước cấp huyện. Do vậy, để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình, chính quyền cấp huyện cần chủ động, sáng tạo, khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn đồng thời phải thực hiện tiết kiệm chi tiêu ngân sách, tuân thủ các quy định của pháp luật trong quản lý ngân sách, đảm bảo cân đối thu chi ngân sách. NS cấp huyện có nguồn thu, nhiệm vụ chi theo Luật NSNN như sau: 7 Nguồn thu của Ngân sách cấp huyện gồm: + Các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100% - Thuế tài nguyên, trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; - Thuế môn bài; - Thuế sử dụng đất nông nghiệp; - Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; - Tiền sử dụng đất, trừ thu tiền sử dụng đất tại điểm k khoản 1 Điều 35 của Luật NSNN:Thu tiền sử dụng từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý; - Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; - Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; - Lệ phí trước bạ; - Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; - Các khoản thu hồi vốn của NSĐP đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do UBND cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do UBND cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu; - Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương; - Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý; - Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; - Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước do UBND cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu thì được phép trích 8 lại một phần hoặc toàn bộ, phần còn lại thực hiện nộp ngân sách theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan; - Lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu; - Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện; - Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương xử lý; - Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; - Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; - Thu kết dư ngân sách địa phương; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. + Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật NSNN: Thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng từ hàng hóa nhập khẩu), Thuế thu nhập doanh nghiệp(trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí), Thuế thu nhập cá nhân, Thuế tiêu thụ đặc biệt( trừ thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa nhập khẩu), Thuế bảo vệ môi trường (trừ thuế bảo vệ môi trường từ hàng hóa nhập khẩu).
+ Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp tỉnh. + Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang. Nhiệm vụ chi của NS cấp huyện gồm: + Chi đầu tư phát triển gồm: - Đầu tư cho các dự án do địa phương quản lý; - Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của pháp luật; 9 - Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. + Chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trong các lĩnh vực: - Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; - Sự nghiệp khoa học và công nghệ; - Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa phương quản lý; - Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; - Sự nghiệp văn hóa thông tin; - Sự nghiệp phát thanh, truyền hình; - Sự nghiệp thể dục thể thao; - Sự nghiệp bảo vệ môi trường; - Các hoạt động kinh tế; - Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; - Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; - Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
+ Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay. + Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương. + Chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân sách địa phương. + Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.
+ Chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b và c khoản 9 Điều 9 của Luật NSNN gồm: Hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp cấp 10 thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương;Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới;Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nghiêm trọng [9]. Vai trò của NSNN NSNN được xem là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đóng vai trò không thể thiếu đối với nước ta. NSNN thể hiện vai trò quan trọng ở một số nội dung cơ bản sau: +Về kinh tế: - Ngân sách nhà nướcgiúp đảm bảo nguồn lực tài chính để Nhà nước đầu tư chocơ sở hạ tầng và thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước phát triển. - NSNN là yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của doanh nghiệp,hỗ trợ doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp cần đảm bảo một cơ cấu ổn định hoặc muốn chuyển sang một cơ cấu mới phù hợp hơn.
- NSNN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để mở rộng quy mô sản xuất góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. - Nhà nước có thể dựa vào ngân sách để đảm bảo cho các nguồn vốn vay trong và ngoài nước nhằm tạo thêm những nguồn lực tài chính mới cho nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế.