phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn trình bày trong ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng các biện pháp quản lý của hiệu trƣởng đối với hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trƣờng Trung học cơ sở quận Hồng Bàng Thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý của hiệu trƣởng ở trƣờng Trung học cơ sở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động ngoài giờ lên lớp 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SƠ QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ trong xã hội nguyên thủy, con ngƣời phải sống theo bầy đàn, phải đoàn kết nhau lại để đủ sức chống chọi với thiên nhiên, thú dữ thì nhu cầu tổ chức, quản lý một đám đông ô hợp thành một tập thể có sức mạnh thống nhất vì mục đích sinh tồn chung của mọi ngƣời cũng đã manh nha nhƣ một tất yếu lịch sử tự nhiên. Xã hội ngày càng phát triển và tiến bộ, gắn với tiến trình lịch sử của nhân loại là nhu cầu QL cũng ngày càng phát triển.
QL đã trở thành các quan điểm, tƣ tƣởng quan trọng đối với các nhà triết học, chính trị dƣới các chế độ khác nhau. Trên thế giới có nhiều nhà chính trị, tƣ tƣởng nghiên cứu về QL, đồng thời áp dụng vào thực tiễn và đã có những thành công lớn trong lĩnh vực này. Tiêu biểu cho phƣơng Đông, nổi lên hai nền văn hóa lâu đời đó là Trung Hoa cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Đặc biệt là nhà nƣớc Trung Hoa cổ đại đã sản sinh ra những nhà tƣ tƣởng về QL nhƣ Khổng Tử (551- 479 TCN), Mạnh Tử (372-289 TCN), Thƣơng Ƣởng (390-338 TCN); Hàn Phi Tử (280-233 TCN) v.v…Tuy tƣ tƣởng về quản lý của họ có khác nhau về quan điểm, nhƣ Khổng Tử chú trọng về “đức trị” để quản lý xã hội và cai trị dân.
Hàn Phi Tử, Thƣơng Ƣởng thì thiên về “pháp trị”. Những tƣ tƣởng QL đó đã có ảnh hƣởng khá lâu dài đối với các nƣớc phƣơng Đông chịu ảnh hƣởng Nho giáo trong xã hội phong kiến đƣợc phát triển theo logic từ thấp đến cao, từ vĩ mô đến vi mô: “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Đến nay những quan điểm trên vẫn còn ảnh hƣởng sâu sắc đến phong cách QL của các nƣớc Châu Á. Ví dụ ở Nhật Bản, họ coi sự thành công về kinh tế của ngày hôm nay là do sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây với tƣ tƣởng Khổng giáo về QL kinh tế ở nƣớc này.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở phƣơng Tây cổ đại, có nhà triết học Socrat (TKIII-IV TCN) cũng đề cập đến QL. Hy Lạp cổ đại, có Platon (427-346 TCN). Theo ông, muốn cai trị đất nƣớc phải biết đoàn kết dân lại và phải vì dân, tiêu chuẩn của ngƣời đứng đầu là ham hiểu biết, trung thực, tự chủ, điều độ, ít tham vọng về vật chất và phải đƣợc đào tạo kỹ lƣỡng. Trong thời kỳ lịch sử cận đại có Chales Babrage (1792-1871), H.Taylor(1841-1925)… là những ngƣời đã đóng góp cho khoa học QL và làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn.Ănghen- ngƣời sáng lập ra học thuyết cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại.Mác cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo điều hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11,tr.Lênin (1870-1924), Ngƣời phát triển học thuyết giáo dục XHCN của C.Ănghen đã đƣa ra quan điểm: Ngƣời HT trong nhà trƣờng XHCN không phải chỉ cần biết tổ chức việc dạy và học theo yêu cầu xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trƣờng thành một “công cụ của chuyên chính vô sản” (Lênin - bàn về giáo dục).Lênin đã vận dụng phƣơng thức giáo dục của C.Ănghen vào thực tiễn và coi đó là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN. Trong bài phát biểu “Nhiệm vụ của thanh niên” (1920), Ngƣời nói: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân ” [28,tr. Các nghiên cứu ở trong nước Lịch sử Việt Nam đã ghi lại những tƣ tƣởng QL có từ xa xƣa. Thời kỳ tiền Lê tƣ tƣởng QL là pháp trị.
Thời kỳ nhà Lý, tƣ tƣởng chủ đạo trong quản lý là đức trị. Sang thời hậu Lê thì hƣớng cả vào đức trị và pháp trị. Trong tác phẩm “đức trị và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp trị trong nho giáo”, giáo sƣ Vũ Khiêu phân tích về ảnh hƣởng của đƣờng lối pháp trị của triều đại Lê Thánh Tông nhƣ sau: “…Có thể nói đó là thời kỳ kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị ở đỉnh cao của văn hóa dân tộc” [ 22,tr. Nhƣ vậy, tƣ tƣởng QL thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn của lịch sử.
Bƣớc vào thế kỷ 21, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, tri thức đƣợc coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trƣởng nền kinh tế. GD và QLGD là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự phát triển của đất nƣớc. Mặc dù khoa học QLGD nƣớc ta còn non trẻ nhƣng phát triển nhanh cả về cơ sở lý luận và thực tiễn. Sự nghiệp đổi mới nƣớc ta hiện nay cho thấy công tác nghiên cứu về QLGD có vai trò rất quan trọng.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề QLGD, nâng cao chất lƣợng GD & ĐT của Việt Nam ở nhiều góc độ khác nhau nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục phát triển toàn diện con ngƣời Việt Nam: năng động, sáng tạo, có năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực HĐ xã hội. của các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD nhƣ Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Xuân Hải, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Võ Kỳ Anh. Nghị quyết lần thứ 2 ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: "GD & ĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo về số lượng và qui mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy- học trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa GD & ĐT đáp ứng yêu cầu mới của đất nước. Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp XD và phát triển đất nước [24,tr.
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: " Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy-học, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" [4,tr. Trong quá trình GD, HĐGDNGLL là một trong những HĐ trọng tâm, quyết định sự thành công của quá trình GD. Vậy, việc QL HĐGDNGLL là một vấn đề quan trọng của ngành GD và của cả xã hội. Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề quản lý HĐGDNGLL nhƣ: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - "HĐGDNGLL ở trƣờng THCS" của Đặng Vũ Hoạt- NXB giáo dục.
- "Công tác GDNGLL ở trƣờng tiểu học" của Nguyễn Hữu Hợp- Nguyễn Dục Quang, trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội - Nguyễn Nhƣ Ý với nghiên cứu "Một số biện pháp QL HĐGDNGLL của HT các trƣờng THPT huyện Phú Xuyên - Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" - Hoàng Thị Minh Hƣơng với luận văn thạc sĩ: "Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của HT trƣờng tiểu học quận Hồng Bàng-Hải Phòng" - Nguyễn Thị Thành với luận án tiến sĩ "Các biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho HS THPT" - Tác giả Hà Nhật Thăng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên)- sách giáo viên HĐGDNGLL 6,7,8,9 [40] cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chƣơng trình, phƣơng tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của HS, đồng thời hƣớng dẫn thực hiện cụ thể các chủ điểm. Nhƣ vậy, đã có không ít các tác giả nghiên cứu về HĐGDNGLL ở nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ HĐ QL của HT đối với HĐGDNGLL ở các trƣờng THCS quận Hồng Bàng chƣa đƣợc đề cập có hệ thống, đặc biệt chƣa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này tại thành phố Hải Phòng. Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học chuyên ngành QLGD tác giả nghiên cứu thực trạng QL HĐGDNGLL của 08 trƣờng THCS quận Hồng Bàng, từ đó đề xuất "Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường Trung học cơ sở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng". Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý 1. Quản lý QL là một hiện tƣợng có thuộc tính lịch sử, nó là nội tại của quá trình lao động. QL là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con ngƣời. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội.
QL là một HĐ cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con ngƣời và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Vì vậy lý luận về QL đƣợc hình thành và phát triển qua các thời kỳ và các lý luận về chính trị, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây ngƣời ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình QL và dần dần hình thành các “lý thuyết QL”.Taylor phát biểu các nguyên lý về QL thì QL nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức hay một lĩnh vực nào, sự HĐ của nền kinh tế quốc dân, HĐ của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ nhƣ tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời QL và đối tƣợng bị QL.