Luận án TS. Tạ Thị Minh Thư: Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT TPHCM

Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT tại TPHCM, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong nhà trường.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án
233
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.2. Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục giải quyết

2. Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

2.1. Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông hiện nay

2.2. Những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông hiện nay

2.3. Những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3. Chương 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

3.1. Khái quát chung về giáo dục và hệ thống giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3.2. Tổ chức nghiên cứu, khảo sát, điều tra đánh giá thực trạng

3.3. Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3.4. Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3.5. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4. Chương 4: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY VÀ KHẢO NGHIỆM, THỬ NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP

4.1. Các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4.2. Khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất

4.3. Thử nghiệm các biện pháp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý giáo dục pháp luật học sinh THPT

Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT là một nhiệm vụ chiến lược, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ. Đây là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (Ban giám hiệu, tổ chuyên môn) lên đối tượng giáo dục (học sinh) thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường. Mục tiêu cốt lõi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà còn hướng tới nâng cao ý thức pháp luật, hình thành niềm tin và rèn luyện thói quen, hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực pháp luật. Theo nghiên cứu của Tạ Thị Minh Thư, quá trình này được thực hiện trong một môi trường sư phạm thuận lợi, có chương trình, nội dung xác định và đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp. Đặc biệt, theo chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu được cụ thể hóa thành các nhóm năng lực có thể lượng hóa như năng lực điều chỉnh hành vi pháp luật, năng lực phát triển bản thân và năng lực tham gia các hoạt động xã hội liên quan đến pháp luật. Điều này đánh dấu một sự chuyển dịch quan trọng từ việc trang bị kiến thức đơn thuần sang phát triển năng lực thực tiễn, giúp học sinh không chỉ hiểu luật mà còn biết cách vận dụng để bảo vệ bản thân và tuân thủ nghĩa vụ công dân. Do đó, một giải pháp giáo dục pháp luật hiệu quả phải được quản lý một cách khoa học, đồng bộ và nhất quán.

1.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật

Việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh THPT là yêu cầu cấp thiết. Lứa tuổi này đang trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng về tâm sinh lý, hình thành nhân cách và các mối quan hệ xã hội phức tạp. Học sinh THPT phải đối mặt với nhiều nguy cơ và cám dỗ từ xã hội hiện đại, trong khi kiến thức pháp luật để tự bảo vệ còn hạn chế. Công tác giáo dục pháp luật hiệu quả giúp các em nhận diện và phòng tránh các hành vi lệch chuẩn ở học sinh, xây dựng lối sống lành mạnh. Theo Chỉ thị số 32-CT/TW, phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị. Đối với học sinh, đây không chỉ là việc học thuộc các điều luật mà là quá trình hình thành niềm tin vào sự công bằng của pháp luật, ý thức tôn trọng kỷ cương và thói quen hành xử văn minh. Một công dân có ý thức pháp luật tốt sẽ góp phần xây dựng một xã hội ổn định, phát triển bền vững.

1.2. Cơ sở lý luận về mô hình quản lý giáo dục pháp luật hiệu quả

Một mô hình quản lý giáo dục pháp luật hiệu quả phải dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, kết hợp nhiều phương pháp tiếp cận. Theo tài liệu nghiên cứu, các cách tiếp cận chính bao gồm: tiếp cận hệ thống – cấu trúc, xem xét GDPL trong mối quan hệ tổng thể với các hoạt động giáo dục khác; tiếp cận lịch sử - logic, nhìn nhận sự phát triển của công tác GDPL qua các giai đoạn; và đặc biệt là tiếp cận thực tiễn - hoạt động. Cách tiếp cận này nhấn mạnh việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tiễn, xử lý các tình huống pháp luật cụ thể. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT không chỉ là hoạt động của riêng giáo viên môn Giáo dục công dân THPT mà là sự tác động có tổ chức của toàn bộ bộ máy nhà trường. Quá trình này bao gồm các chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Mỗi chức năng đều cần được thực hiện một cách khoa học để đảm bảo các giải pháp giáo dục pháp luật đi vào thực chất và mang lại hiệu quả bền vững.

II. Phân tích thực trạng giáo dục pháp luật còn nhiều thách thức

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh THPT hiện nay vẫn đối mặt với không ít thách thức và bất cập. Nghiên cứu thực tiễn tại TP.HCM chỉ ra rằng, tình trạng vi phạm pháp luật trong lứa tuổi vị thành niên có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp. Một bộ phận không nhỏ học sinh tuy có hiểu biết lý thuyết về pháp luật nhưng lại thiếu ý thức và kỹ năng thực hành. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Về mặt quản lý, phương thức quản lý giáo dục pháp luật còn chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Vai trò của nhà trường đôi khi chưa được phát huy tối đa, công tác chỉ đạo còn mang tính hình thức. Về phương pháp, việc giảng dạy vẫn còn nặng về lý thuyết, khô khan, thiếu các hoạt động tương tác và trải nghiệm thực tế, chưa thực sự hấp dẫn học sinh. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa chặt chẽ và đồng bộ. Sự thiếu kết nối trong phối hợp gia đình và xã hội với nhà trường tạo ra những khoảng trống trong việc giáo dục và giám sát hành vi của học sinh, dẫn đến hiệu quả chung chưa cao. Đây là những vấn đề cốt lõi cần có biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT phù hợp để khắc phục.

2.1. Thách thức từ thực tiễn Tình hình vi phạm pháp luật gia tăng

Số liệu khảo sát thực tế cho thấy một bức tranh đáng lo ngại về thực trạng học sinh vi phạm pháp luật. Các hành vi không chỉ dừng lại ở vi phạm luật giao thông mà còn mở rộng sang các vấn đề nghiêm trọng hơn như bạo lực học đường, trộm cắp, sử dụng chất kích thích và các hành vi lệch chuẩn ở học sinh trên không gian mạng. Theo Bảng 3.8 trong luận án của Tạ Thị Minh Thư, các thống kê về tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn TP.HCM cho thấy sự phức tạp và trẻ hóa của đối tượng vi phạm. Điều này phản ánh một mâu thuẫn lớn: trong khi kết quả học tập và đánh giá hạnh kiểm trong nhà trường vẫn ở mức cao, thì hành vi thực tế ngoài xã hội của một bộ phận học sinh lại đi ngược lại. Mâu thuẫn này đặt ra câu hỏi cấp bách về tính hiệu quả của các phương pháp giáo dục hiện hành và đòi hỏi phải xem xét lại toàn diện công tác tuyên truyền pháp luật cho thanh thiếu niên.

2.2. Hạn chế trong công tác quản lý và phương pháp giảng dạy

Một trong những nguyên nhân cốt lõi của thực trạng giáo dục pháp luật chưa hiệu quả là do những hạn chế trong quản lý và phương pháp. Nhiều trường vẫn triển khai công tác này một cách thụ động, chủ yếu dựa vào sách giáo khoa và các giờ học lý thuyết trên lớp. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa được quan tâm đúng mức. Các hình thức tổ chức dạy học sáng tạo, hấp dẫn như phiên tòa giả định, dự án học tập, thảo luận tình huống thực tế còn ít được áp dụng. Bên cạnh đó, theo Bảng 3.12 của tài liệu gốc, công tác tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên và phối hợp các lực lượng còn tồn tại nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục công dân THPT đôi khi còn thiếu và chưa được chuẩn hóa, thiếu các kỹ năng cần thiết để tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật trải nghiệm. Sự thiếu đầu tư về nguồn lực và cơ chế quản lý chưa linh hoạt đã tạo ra rào cản lớn cho việc nâng cao chất lượng phổ biến pháp luật học đường.

III. Top 5 biện pháp quản lý giáo dục pháp luật từ cấp nhà trường

Để khắc phục những tồn tại, cần triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT ngay từ cấp nhà trường. Đây là những giải pháp trọng tâm, tác động trực tiếp đến chất lượng dạy và học. Trước hết, cần nâng cao nhận thức cho chính đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của công tác này. Thứ hai, việc xây dựng kế hoạch giáo dục pháp luật phải được thực hiện một cách bài bản, khoa học, bám sát thực tiễn của địa phương và đặc điểm tâm sinh lý học sinh. Kế hoạch không chỉ bao gồm nội dung chương trình chính khóa mà phải tích hợp đa dạng các hoạt động khác. Thứ ba, cần tập trung bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ giáo viên, đặc biệt là các kỹ năng tổ chức hoạt động trải nghiệm. Thứ tư, Ban giám hiệu phải tăng cường chỉ đạo việc đổi mới phương pháp giảng dạy, khuyến khích sự sáng tạo. Cuối cùng, công tác kiểm tra, đánh giá cần được cải tiến, không chỉ đánh giá kiến thức mà còn phải đánh giá được sự chuyển biến về thái độ và hành vi của học sinh. Đây là những giải pháp giáo dục pháp luật nền tảng để tạo ra sự thay đổi thực chất.

3.1. Đổi mới phương pháp dạy học tích hợp qua môn Giáo dục Công dân

Trọng tâm của việc nâng cao hiệu quả là đổi mới phương pháp giảng dạy trong môn Giáo dục công dân THPT. Thay vì thuyết trình một chiều, giáo viên cần đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tự khám phá kiến thức. Các phương pháp dạy học tích cực cần được ưu tiên sử dụng như: giải quyết vấn đề, phân tích tình huống điển hình, tranh biện, học tập qua dự án. Ví dụ, giáo viên có thể đưa ra các vụ việc pháp luật có thật, gần gũi với đời sống học sinh để cả lớp cùng phân tích, thảo luận và đưa ra cách giải quyết. Việc tích hợp kỹ năng sống và pháp luật cũng vô cùng quan trọng, giúp học sinh biết cách ứng xử phù hợp trong các tình huống thực tế. Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, việc tăng cường các chủ đề học tập và hoạt động trải nghiệm là yêu cầu bắt buộc, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại.

3.2. Tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa pháp luật thực tiễn

Lý thuyết phải luôn đi đôi với thực hành. Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa pháp luật là con đường hiệu quả nhất để đưa pháp luật vào cuộc sống. Nhà trường có thể xây dựng các mô hình đa dạng như: câu lạc bộ “Pháp luật và Đời sống”, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, sân khấu hóa các tình huống pháp luật, hay mời chuyên gia, luật sư đến nói chuyện chuyên đề. Đặc biệt, mô hình “phiên tòa giả định” được đánh giá rất cao về tính trực quan và hiệu quả giáo dục. Thông qua việc đóng vai, học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về quy trình tố tụng mà còn cảm nhận được tính nghiêm minh của pháp luật. Những hoạt động này giúp việc tuyên truyền pháp luật cho thanh thiếu niên trở nên sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu hơn rất nhiều so với các bài giảng khô khan.

IV. Hướng dẫn phối hợp gia đình và xã hội trong giáo dục pháp luật

Hiệu quả của biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT không thể đạt được nếu chỉ dựa vào nỗ lực của nhà trường. Một chiến lược toàn diện đòi hỏi sự phối hợp gia đình và xã hội một cách chặt chẽ và đồng bộ. Nhà trường phải giữ vai trò trung tâm, là cầu nối chủ động liên kết các lực lượng giáo dục. Vai trò của nhà trường không chỉ là giảng dạy mà còn là tổ chức, điều phối, tạo ra một môi trường giáo dục pháp luật thống nhất từ trong ra ngoài cổng trường. Việc xây dựng một cơ chế phối hợp rõ ràng, phân định trách nhiệm cụ thể cho từng bên là yêu cầu tiên quyết. Gia đình cần được cung cấp thông tin, kiến thức để đồng hành cùng con em. Các tổ chức xã hội, cơ quan tư pháp địa phương cần tham gia hỗ trợ nhà trường về chuyên môn và nguồn lực. Chỉ khi tạo thành một mạng lưới giáo dục vững chắc, công tác phổ biến pháp luật học đường mới thực sự lan tỏa và thấm sâu vào ý thức, hành động của mỗi học sinh, góp phần ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn từ gốc rễ.

4.1. Phát huy vai trò của nhà trường làm cầu nối các lực lượng

Nhà trường cần chủ động phát huy vai trò của nhà trường trong việc kết nối với phụ huynh và các tổ chức xã hội. Cần định kỳ tổ chức các buổi họp phụ huynh chuyên đề về giáo dục pháp luật, cung cấp cho cha mẹ những kiến thức cơ bản và kỹ năng cần thiết để giáo dục con cái tại nhà. Đồng thời, nhà trường cần xây dựng kế hoạch hợp tác với các cơ quan như Đoàn Thanh niên, Hội Luật gia, Công an địa phương để tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật học đường và ngoại khóa. Sự tham gia của các chuyên gia pháp luật sẽ mang đến những kiến thức thực tiễn và có tính thuyết phục cao. Việc tạo ra một cơ chế thông tin hai chiều, giúp gia đình và nhà trường kịp thời nắm bắt và xử lý các vấn đề của học sinh, là yếu tố then chốt để việc phối hợp gia đình và xã hội đạt hiệu quả cao.

4.2. Xây dựng các mô hình quản lý giáo dục pháp luật cộng đồng

Để nâng cao hiệu quả, cần nhân rộng các mô hình quản lý giáo dục pháp luật có sự tham gia của cộng đồng. Các mô hình này có thể bao gồm việc thành lập các tổ tư vấn pháp luật tại địa phương dành cho thanh thiếu niên, tổ chức các chiến dịch truyền thông về an toàn giao thông, phòng chống bạo lực học đường với sự tham gia của học sinh. Việc lồng ghép nội dung phổ biến pháp luật học đường vào các hoạt động văn hóa, thể thao tại địa phương cũng là một cách tiếp cận sáng tạo. Khi học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động xây dựng môi trường sống an toàn, tuân thủ pháp luật tại nơi mình sinh sống, các em sẽ hình thành ý thức trách nhiệm công dân một cách tự nhiên. Đây là cách xã hội hóa công tác giáo dục pháp luật, biến nó thành nhiệm vụ của toàn xã hội chứ không riêng ngành giáo dục.

V. Khảo nghiệm các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật mới

Để đảm bảo tính hiệu quả, các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT được đề xuất cần phải trải qua quá trình khảo nghiệm và thử nghiệm khoa học. Nghiên cứu của Tạ Thị Minh Thư đã tiến hành khảo sát ý kiến chuyên gia, cán bộ quản lý và giáo viên về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp. Kết quả cho thấy sự đồng thuận cao, khẳng định các biện pháp này phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cụ thể, các biện pháp như đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường hoạt động thực tiễn và phối hợp gia đình và xã hội đều được đánh giá là rất cần thiết. Giai đoạn thử nghiệm sau đó được tiến hành tại các trường THPT, áp dụng các mô hình và phương pháp mới vào thực tế giảng dạy. Việc so sánh kết quả trước và sau tác động đã cung cấp những bằng chứng thuyết phục về hiệu quả của các giải pháp. Sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy hướng đi này là đúng đắn, làm cơ sở để nhân rộng mô hình trong tương lai.

5.1. Đánh giá tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất

Kết quả khảo nghiệm được trình bày trong các Bảng 4.1 và 4.2 của luận án cho thấy một sự thống nhất cao trong đánh giá của các chuyên gia và nhà giáo dục. Các giải pháp giáo dục pháp luật được đề xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có tính ứng dụng cao. Cụ thể, biện pháp "Chỉ đạo đa dạng hóa các hoạt động ngoại khóa pháp luật" và "Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên" nhận được điểm số cao nhất về cả tính cần thiết và khả thi. Điều này cho thấy thực tiễn đang rất cần những thay đổi tập trung vào hoạt động trải nghiệm và nâng cao năng lực cho đội ngũ thực thi. Việc xác định được mức độ ưu tiên của từng biện pháp giúp các nhà quản lý có thể xây dựng lộ trình triển khai phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị.

5.2. So sánh hiệu quả thực tiễn trước và sau khi thử nghiệm

Giai đoạn thử nghiệm mang lại những kết quả ấn tượng. Bảng 4.8 trong tài liệu nghiên cứu đã so sánh chi tiết nhận thức, thái độ và hành vi của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước và sau khi áp dụng các biện pháp mới. Kết quả cho thấy, ở nhóm được tác động, tỷ lệ học sinh có nhận thức đúng đắn về pháp luật, có thái độ tích cực và hành vi tuân thủ pháp luật tăng lên rõ rệt. Ví dụ, nhận thức về hậu quả của bạo lực học đường hay ý thức tham gia giao thông an toàn đã có sự cải thiện đáng kể. Những con số này là bằng chứng xác thực, chứng minh rằng khi các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT được triển khai một cách bài bản, khoa học và đồng bộ, chúng chắc chắn sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực, góp phần nâng cao ý thức pháp luật một cách bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/10/2025
Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 với tiêu đề: Cơ sở lý luận của GDPL, gồm 3 tiết. Tiết 1, Bản chất, phân loại GDPL. Tiết 2, Cấu trúc của GDPL. Tiết 3, Chức năng của GDPL.

Tác giả khẳng định rằng, bản chất của GDPL là quá trình định vị một cách vững chắc những nguyên tắc, tư tưởng pháp luật vào trong ý thức pháp luật của đối tượng được giáo dục. Chương 2, với tiêu đề: Tổ chức GDPL trong xã hội Nga đương đại. Tác giả quan niệm rằng, giáo dục lại về pháp luật là một quá trình phức tạp hơn, bởi vì nó hướng vào khắc phục những phán đoán, đánh giá sai lầm của cá nhân, nhắm tới sửa chữa các hành vi xử sự tiêu cực, ảnh hưởng không có lợi đối với con người. Hội Luật gia dân chủ quốc tế (2006), Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa, Hội thảo khoa học, Paris, Cộng hòa Pháp [41].

Những năm gần đây, ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật và giáo dục pháp luật của các tổ chức quốc tế. Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Hội luật gia dân chủ quốc tế đã họp tại Paris, Cộng hòa Pháp vào tháng 6 năm 2006. Trong chương trình nghị sự của Hội nghị đã có một cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề: “Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa” đã thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức luật gia đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Hội thảo đã tập trung làm rõ tính cấp thiết phải đa dạng hóa các 17 phương thức GDPL cho các tầng lớp xã hội ở mỗi quốc gia, nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa.

Các ý kiến hội thảo cho rằng, nội dung GDPL không chỉ là pháp luật quốc nội của mỗi nước mà phải tập trung phổ biến, giáo dục các nội dung pháp luật quốc tế. Hội Luật gia ASEAN (2009), Hiến chương ASEAN – Đưa ASEAN lên những tầm cao mới, Hội thảo khoa học, Hà Nội, Việt Nam [43]. Tại hội thảo này, nhiều vấn đề về GDPL đã được đặt ra. Trong phần đầu tiên của hội thảo có chủ đề “Tác động của Hiến chương ASEAN tới hệ thống giáo dục pháp luật của các nước ASAN” đã có một loạt các báo cáo khoa học nghiên cứu về tình hình GDPL ở các nước ASEAN.

Các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng, quá trình giáo dục phải được bắt đầu bằng việc trang bị cho các sinh viên luật những kiến thức cơ bản nhằm tạo ra hình thức phù hợp để bênh vực quyền lợi của người dân, tuyên truyền pháp luật nhằm bảo đảm cho người dân có khả năng tiếp cận công lý với mức chi phí thấp nhất. Nội dung “Trợ giúp pháp luật cho người nghèo” cần được đưa vào chương trình đào tạo nhằm giúp người học có hiểu biết thấu đáo về ý nghĩa của việc giúp đỡ pháp luật cho những ai đang ở bên lề xã hội. Cùng với xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế và sự phát triển của các tổ chức quốc tế, ngày càng có nhiều hội thảo về pháp luật và GDPL mang tầm cỡ quốc tế, châu lục và các khu vực. Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDPL cũng được phát triển khá mạnh mẽ.

Hội thảo khoa học quốc tế (2012), Giáo dục pháp luật ở các nước châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền, Seoul, Hàn Quốc [42]. Hội thảo được tổ chức từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 27 tháng 10 năm 2012, tại Seoul, Hàn Quốc. Tại hội thảo này, các báo cáo khoa học đều quan tâm đến vấn đề GDPL theo hướng gắn mục đích, nội dung GDPL với cải cách kinh tế và cải cách tư pháp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Các báo cáo cho thấy, GDPL ở mỗi quốc gia phải được thực hiện đồng bộ với đặc điểm văn hóa và các chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong từng bối cảnh cụ thể.

18 Ở Việt Nam, GDPL đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Hồ Chí Minh (1959), “Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên”, đã nhiều lần nhấn mạnh: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, toàn thể cán bộ và nhân dân sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” [64, tr. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, việc tuyên truyền GDPL cho mọi người dân là một nhiệm vụ quan trọng. Bởi vì, “Việc công bố đạo luật chưa phải đã xong mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài đến mọi người dân thì mới thực hiện tốt được” [64, tr.

Đào Trí Úc (chủ biên) (1995), Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, sách tham khảo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội [102]. Đây là đề tài khoa học cấp Bộ do tác giả Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, được in thành sách tham khảo. Tác giả đã phân tích làm rõ nội hàm của ý thức pháp luật, lối sống pháp luật.

Đã đề xuất các giải pháp xây dựng ý thức và lối sồng theo pháp luật. Một trong những giải pháp đó là tăng cường GDPL cho các tầng lớp xã hội, bao gồm GDPL cho cán bộ, công chức nhà nước, các tâng lớp nhân dân và học sinh, sinh viên. Trần Ngọc Đường (1996), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội [29].

Tác giả đã giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL như khái niệm GDPL; các yếu tố cấu thành của quá trình GDPL. Tác giả đã phân tích làm rõ chủ thể GDPL, đối tượng GDPL, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GDPL; các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình GDPL. Trong đó, tác giả khẳng định: Bản chất của quá trình GDPL là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành [29, tr. Cuốn sách là tài liệu quan trọng cung cấp cho người đọc những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL.

Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1998), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới. Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92 - 98 - 223 – ĐT, Hà Nội [105]. Đề tài khoa học cấp nhà nước, 19 mã số KX-07. Các tác giả đã phân tích yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra yêu cầu mới đối với công tác GDPL.

Các tác giả đã phân tích quan niệm về GDPL, cấu trúc các thành tố cơ bản của GDPL, đánh giá thực tiễn GDPL cho cán bộ, nhân dân và học sinh, sinh viên trong những năm qua, chỉ ra những mặt tích cực và những hạn chế trong công tác GDPL, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh các hoạt động GDPL đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an 2013 [97]. Cuốn sách do Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn, đã dành một chương viết về GDPL. Trong đó đã xác định mục đích của GDPL được xem xét trên nhiều góc độ, tùy thuộc theo đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục và hình thức giáo dục.

Tuy nhiên, quá trình GDPL đều hướng tới 3 vấn đề cơ bản như sau: Một là, GDPL nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể (với tính cách là đối tượng nhận thức hay đối tượng của giáo dục). Hai là, giáo dục pháp luận nhằm khơi dây tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật. Ba là GDPL nhằm hình thành thói quen hành vi xử sự theo pháp luật với động cơ tích cực. Đồng thời cũng trong chương này, các tác giả đã luận giải về nội dung giáo dục và phương pháp, hình thức tổ chức GDPL.

Dương Thanh Mai (1996), Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật, Luận án tiến sĩ Luật học [60]. Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ hình thức tổ chức giáo dục đặc thù của GDPL là thông qua hoạt động tư pháp. Dựa trên thực tiễn hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Tác giả đã tổng kết khái quát nhận định rằng, trên diễn đàn khoa học đang có ba quan niệm với cách hiểu khác nhau về GDPL.

Một là, không thừa nhận GDPL; quan điểm thứ hai, xem nhẹ vai trò của GDPL; quan niệm thứ ba, đơn giản hóa GDPL, đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp GDPL thông qua hoạt động tư pháp bằng thực tiễn của Tòa và luật sư. Về thực chất đây là phương pháp GDPL trong thực tiễn, bằng thực tiễn, thông qua thực tiễn. 20 Nguyễn Khắc Hùng (2009), Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài luận án tiến sĩ Giáo dục học, trường Đại học Thái Nguyên [46].

Luận án đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến biện pháp tổ chức GDPL; đồng thời đã phân tích đánh giá thực trạng công tác tổ chức GDPL trong nhà trường THPT và thực trạng triển khai thực hiện các biện pháp tổ chức GDPL cho học sinh ở các trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp tác động với 9 biện pháp cụ thể về GDPL cho học sinh ở các trường THPT hiện nay. Đây là đề tài luận án tiến sĩ về giáo dục học, có nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến quản lý GDPL cho học sinh các trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, đặc trưng và điều kiện đảm bảo hiệu quả GDPL cho học sinh ở các trường THPT.

Luận án đã đánh giá thực trạng hoạt động GDPL ở các trường THPT Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất quan điểm định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động GDPL cho học sinh các trường THPT ở Việt Nam hiện nay. Phan Hồng Dương (2014), Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học không chuyên ở Việt Nam, đề tài luận án tiến sĩ luật học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội [20]. Luận án đã xây dựng cơ sở lý luận của GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ