CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HOC SINH 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là trong những. mục tiêu cơ bản của Đảng ta. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho mọi người nhận thức được những giá trị của pháp luật và biết sử dụng như một phương tiện hữu hiệu vào cuộc sống hàng ngày, tạo niềm tin vào pháp luật là một yêu in thiét và tắt yếu cho sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường trung học là một vấn đề mang ý nghĩa khoa học, gắn với chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta. Giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng đã được quy định cụ thể trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, Ngành giáo. dục như: ~ Chỉ thị 32/CT/TW ngày 9 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao. ý thức của cán bộ, nhân dân.
~_ Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phô biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân. ~ Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng. chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo. dục pháp luật trong nhà trường”.
~ Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09 tháng 04 năm 2012 của Thủ tướng. chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-Kl/TW ngày. 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ~ Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội nước Công hòa xã hội 12 chủ nghĩa Việt Nam khéa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012. và có hiệu lực thỉ hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
~ Quyết định số 1142/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đảo tạo vi iệc Ban hành kế hoạch công tác phổ biến, giáo. dục pháp luật năm 2013 của ngành giáo dục. “Thời gian qua, van dé giáo dục pháp luật và công tác quản lý giáo dục pháp. luật cho học sinh đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này, như: Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Khắc Hùng (2008) với đề tài “Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hỏ Chí Minh”; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Bọng (2012) với đề tài liên pháp quản lý công tác GDPL cho sinh viên đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay”; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Ngọc Thanh (2012) với dé tai *Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn pháp luật ở trường Cao đẳng kinh tế- kỹ thuật Quảng Nam”; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Ái Quỳnh (2014) với đề tii: “Bign pháp quản lý công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên Đại học Huế trong giai đoạn hiện nay”; Đề tài luận văn Thạc sĩ "Biện pháp quản lý công tác giáo đục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu" của tác giả Dương Yến Phượng; Bài viết của PGS.TS Phạm Hồng Quang và TS. Nguyễn Khắc Hùng đăng trên tạp chí Giáo dục (Số 194, năm 2008) với tựa đề ** Kết quả thực nghiệm một số biện pháp GDPL cho học sinh trung học phổ thông”' Bài viết của Đỗ Chí Hiểu “ Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông như thế. nào” đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 5, năm 2012); Bài viết của Thạc sĩ Duong Thi Thúy Nga đăng trên tạp chí Giáo dục ( Số 289, năm 2012) với tựa đề: GDPL cho hoc sinh trung học phổ thông qua dạy học các nội dung pháp luật trong, môn Giáo đục công dân”. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng cho từng loại đối tượng, thời điểm khác nhau.
Cho đến nay, việc tiếp tục nghiên cứu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc trưng, nội dung, hình thức GDPL, nhất là việc khái quát thực tiễn GDPL trong tình hình mới đề từ đó có sự đôi 13 vấn đề GDPL. Cũng có quan điểm cho rằng GDPL chỉ là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức vì thế mà họ cho rằng chỉ cần tiền hành giáo dục chính trị, tư tưởng hay đạo đức thi tự khắc trên thực tế sẽ có được một công dân với ý thức pháp. Một quan điểm khác lại đồng nhất GDPL pháp luật với tuyên truyền, phô biến, giới thiệu các văn bản pháp luật. Tất cả các quan niệm trên đều đánh giá thấp vai trò của GDPL, chưa thấy được vai trò của GDPL trong đời sống xã hội, trong công cuộc xây dựng, hội nhập và phát triển hiện nay.
GDPL thường được hiểu ở hai cấp độ khác nhau: ~ Theo nghĩa rộng: GDPL là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên trong xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những. điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan (chế độ. chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường sống.) là nhân tố ảnh hưởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo chiều hướng xác định nhằm đạt được mục đích của chủ thể tác động. ~ Theo nghĩa hẹp: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của cơ quan, tổ chức và cá nhân (chủ thể giáo dục) tác động lên đối tượng giáo dục nhằm cung cap tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật [16, tr.10] Nhu vay, có thể định nghĩa khái niệm GDPL như sau: GDPL là hoạt động thực tiễn xã hội thực hiện sự tác động một cách thường xuyên, hệ thống lên đối tượng giáo dục nhằm trang bị kiến thức, xây dựng thái độ, niềm tin pháp luật một cách đúng đắn đồng thời giáo dục kỹ năng thích ứng cũng như xử lý các tình huống.
trong cuộc sống theo pháp luật, thúc đây mọi công dân tự giác và chủ động thực. hiện nghiêm minh pháp luật. Giáo dục pháp luật cho học sinh 1. Mục tiêu giáo dục pháp luật Mục tiêu của giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố cấu trúc thuộc bên trong của GDPL và giúp phân biệt GDPL với các dạng GDPL khác.
Đồng thời 18 là cơ sở cho việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp của GDPL phù hợp. với từng chủ thể và đối tượng GDPL. Trong khoa học pháp luật, mục đích của GDPL được thể hiện ở một số khía cạnh sau: ~ Äục tiêu nhận thức: nhằm cung cắp và từng bước mở rộng tri thức pháp. luật, nâng cao văn hóa pháp luật của chủ thể được giáo dục.
Đây là mục đích hàng. a „bởi chính sự am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là điều én can thiết để hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân. Mục đích này đặc biệt quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mà sự hiểu biết pháp luật của nhân dân, cán bộ, học sinh còn ở. Đặc biệt là những học sinh vùng cao, vùng biên giới vùng đồng bào dân tộc ít người chiếm đa số chịu ảnh hưởng nặng nề của tập quán cỗ hủ, lạc hậu, cán bộ.
ở đây xử lý công việc phần lớn dựa vào tình cảm và kinh nghiệm mà không phải căn cứ vào pháp luật. Mặt khác, công tác GDPL chưa được coi trọng dẫn đến tình trang ky cương phép nước chưa nghiêm, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước chưa cao, làm giảm hiệu lực của luật pháp. ~_ÁMục tiêu cảm xúc: nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật. Mục tiêu này đóng một vai trò hết sức quan trọng vì nếu có tri thức về pháp.
luật mà không có tình cảm tôn trọng, niềm tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người dễ hành động lệch khỏi các chuẩn mực pháp luật mà Nhà nước đã đề ra. Theo mục tiêu này, GDPL giúp con người có niềm tin vững chắc vào quy phạm. pháp luật để từ đó có các hành vi tích cực để thực hiện theo các quy định của pháp luật, hình thành ở con người ý thức sống và làm việc theo Hiển pháp và pháp luật. ~_ Mục tiêu hành vi: GDPL cung cấp trì thức về pháp luật, giáo dục tình cảm và niềm tin vào pháp luật để con người thực hiện pháp luật một cách tự nguyện, hình thành động cơ và hành vi hợp pháp, tích cực.
Như vậy, nếu như mục đích về nhận thức và cảm xúc nói trên là để phục vụ cho mục đích hình thành động cơ thì mục tiêu hành vi là cái đích cuối cùng đạt được của GDPL nên nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình GDPL. GDPL có ba mục đích cụ thể, giữa các mục đích có sự đan xen quan hệ qua lại thống nhất chặt chẽ từ nhận thức đến tự giác, từ tự giác đến tích cực, từ tích cực. 19 đến thói quen xử sự theo pháp luật. Vì vậy khi tiến hành GDPL phải hướng hoạt động GDPL vào cả ba mục đích trên.
Tuy nhiên đề đạt được những mục đích đó cần phải cân nhắc, tính toán, lựa chọn từng mục đích đề có các hình thức và phương. pháp GDPL thích hợp cho từng đối tượng cụ thể. Chủ thể của giáo dục pháp luật Chủ thể GDPL chính là người gây ra hành động giáo dục, là người chủ động sử dụng những biện pháp, cách thức tác động lên đối tượng giáo dục theo những nội dung và mục tiêu đã định nhằm đạt được những mục đích nhất định.