Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài Nhiều thập niên của thế kỷ trước, trên thế giới không ít học giả, nhà khoa học, nhà GD đã nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả giáo dục HS. Nhà GD nổi tiếng A.Macarenco (1888-1939) với những nghiên cứu của ông đã trở thành tài sản quý giá cho nhân loại trong sự nghiệp GD thế hệ trẻ, đã nhấn mạnh nguyên lý “GD trong tập thể và bằng tập thể, trong lao động và bằng lao động.Xukhomlinxki (1918-1970), một nhà GD học nổi tiếng của thế giới hiện đại, đã đặc biệt đề cao vai trò của nhà giáo, nghệ thuật giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách HS.Usinxki (1824 – 1870) cho rằng, GD phải đạt tới mức độ phát triển hoàn thiện con người, đảm bảo hai mặt là đạo đức và tài năng, trong đó ông đặc biệt chú trọng về GD đạo đức, bởi vì “sự cảm hóa về đạo đức là vấn đề chủ yếu của GD”. Ông cho rằng cơ sở của đạo đức là hoạt động đem lại lợi ích cho cộng đồng. John Dewey (1859-1952) khẳng định, HS là mục đích tồn tại của hoạt động GD.
HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường. GV đóng vai trò tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học. GV không phải là “quyền uy ban phát” kiến thức, không phải là vị quan tòa, mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học. GV có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích.
Bằng vật liệu cung cấp, đầu mối thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn. GV có thể tạo ra môi trường khuyến khích học tập. Muốn như vậy, GV phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết GD toàn diện. Nhà GD Tiệp Khắc J.A Comenxki (1592-1670) đã hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục.
Ông đã đưa ra hình thức tổ chức dạy học mới đó là hệ thống lớp. Mô hình lớp học được phát triển mạnh mẽ khắp nơi trên toàn thế giới. Không những vậy mô hình lớp học được phát triển và mở rộng, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, song lớp học bao giờ cũng cần một người quản lý. Để quản lý lớp học, nhà trường 7 cử ra một trong những GV giảng dạy làm CTCNL.
GVCN là những người được HT lựa chọn những GV có kinh nghiệm GD, có uy tín với HS được Hội đồng nhà trường nhất trí phân công làm công tác chủ nhiệm. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm, còn nói đến công tác chủ nhiệm là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm. Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học mà có liên quan đến CTCNL. Những nội dung GD HS như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống, GD hướng nghiệp… Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này.
Đó là 12 giá trị của con người trong thế kỷ 21: hòa bình, tôn trọng, hợp tác, trách nhiệm, trung thực, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, đoàn kết, tình yêu thương, tự do, hạnh phúc. Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2005) cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên. Như vậy, người GV cần tổ chức các họat động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, nhiều tác phẩm, tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề về CTCNL như: Tác giả Phạm Viết Vượng (2005) nghiên cứu về “Lý luận giáo dục” đã đưa ra những chức năng cơ bản của GV chủ nhiệm, những nội dung làm công tác chủ nhiệm, một số phương pháp GD HS.
Để làm được CTCNL yếu tố quan trọng nhất đó là năng lực người GV chủ nhiệm [37]. Tác giả Hà Nhật Thăng (2001) nghiên cứu về “Công tác chủ nhiệm lớp dành cho giáo viên Trung học cơ sở” đã giới thiệu những nội dung cơ bản về CTCNL[31]. Nhóm tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ (2000) nghiên cứu “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” 8 đã đề cập đến các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến giao tiếp giữa GV và HS cũng như quá trình hình thành nhân cách của HS, hình thành tập thể HS[28]. Tác giả Nguyễn Dục Quang,“Bàn về năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” đề cập về những vấn đề cơ bản của CTCNL, những nội dung trong CTCNL ở trường phổ thông từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học.
Tác giả đưa ra một số nội dung cơ bản cho CTCNL, đề cao vai trò của người GVCNL trong GD HS và những nội dung cần thiết đòi hỏi người GVCN tự bồi dưỡng và được bồi dưỡng nâng cao năng lực GD [29]. Ngoài ra có thể tìm thấy một số bài báo, tạp chí nghiên cứu về CTCNL cụ thể như: Tác giả Lưu Hồng Uyên (2016) “Những thách thức đối với GVCN trường THCS trong giai đoạn hiện nay” đề cập đến những thách thức từ sự thay đổi của xã hội, tâm sinh lí của HS, đây là một trong những rào cản lớn nhất trong CTCNL [36]. Tác giả Nguyễn Văn Nho (2015) “Nâng cao CTCNL ở trường THPT” đề cập đến những hoạt động trong CTCNL, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CTCNL [26]. Nghiên cứu về CTCNL được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT”, đề tài mã số SPHN- 09-465NCSP, 2010, cũng như cuốn “Một số vấn đề trong CTCNL ở trường THPT hiện nay” [11].
Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của CTCNL, những nội dung trong CTCNL ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả Nguyễn Xuân Tuyên (2005) “Biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của HT trường THPT ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay” [32], nghiên cứu tiến hành khảo sát cán bộ Sở GD, cán bộ quản lý nhà trường, GVCNL, GV bộ môn, và HS. Nội dung khảo sát về vai trò GVCNL, nội dung công tác GVCNL, ảnh hưởng của GVCNL trong quá trình GD HS, và đánh giá của HS về các hoạt động của GVCNL. Tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý công tác GVCNL.
9 Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2016) khi nghiên cứu về “Nhu cầu được bồi dưỡng năng lực chủ nhiệm của giáo viên trung học”[12], đã phân tích nhu cầu bồi dưỡng năng lực cần có của đội ngũ GV chủ nhiệm bậc trung học trên địa bàn Hà Nội trên cơ sở hệ thống các năng lực thành phần đáp ứng đổi mới GD phổ thông. Nội dung chương trình bồi dưỡng GV chủ nhiệm sẽ bao gồm hệ thống ngân hàng các chủ đề được thiết kế theo tiếp cận năng lực thực hiện để họ có thể tự chọn những chủ đề bù đắp những năng lực cần thiết của bản thân. Để đạt được mục tiêu là phát triển năng lực cho GV chủ nhiệm cần phối hợp những hình thức bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu, điều kiện của mỗi GV, đồng thời cần tạo ra động lực tự bồi dưỡng để phát triển chuyên môn, nghiệp vụ liên tục ở mỗi GV để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. Tác giả Hoàng Gia Trang (2017), trong bài viết “Kĩ năng tư vấn tâm lí cơ bản cho giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở”[34], cho rằng GVCN cần có một số kĩ năng tư vấn tâm lí cơ bản sau: kĩ năng giao tiếp; kĩ năng xử lí thông tin; kĩ năng thấu hiểu HS; kĩ năng phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường; kĩ năng hỗ trợ tìm kiếm giải pháp; kĩ năng đánh giá.
GV thực hiện tốt công tác tư vấn tâm lí cho HS sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách của các em và nâng cao chất lượng GD toàn diện cho các nhà trường. Từ những vấn đề thực tiễn trong đổi mới quản lý giáo dục, tác giả Phan Văn Có (2016) khi nghiên cứu về “Thực trạng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp các trường trung học cơ sở huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau”[14] đã phân tích những ưu điểm, nhược điểm và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường THCS Những kết quả nghiên cứu nói trên đã định hướng cho đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và HT các trường THCS trong việc nâng cao chất lượng CTCNL ở Việt Nam hiện nay. Ở tình Bình Dương và Thị xã Thuận An, cũng đã có một vài sáng kiến - kinh nghiệm của đội ngũ GV đề cập đến CTCNL ở trường THCS, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và đi sâu vào các biện pháp quản lý CTCNL của HT các trường THCS. Vì vậy, đề tài tôi tập trung nghiên 10 cứu về “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người muốn tồn tại cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm hay một tổ chức. Để tạo nên sự phối hợp của nhóm hay tổ chức, trong hoạt động hướng đến mục đích chung, cần phải có sự điều khiển thống nhất hoạt động và sự điều khiển ấy chính là “quản lý”. Quản lý là loại hình lao động của con người trong xã hội nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức, hay xã hội đề ra.
Quản lý bao gồm mọi mặt trong đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong đời sống xã hội.