Tổng quan luận án

Công trình khoa học được biên tập và mô tả là luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam", chuyên ngành Luật hình sự (mã số: 62 38 40 01), do nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Phúc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Lê Văn Cảm và TS. Trần Quang Tiệp, bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010.

Về tính cấp thiết, luận án được thực hiện trong bối cảnh Đảng và Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Trong tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn là phương tiện cưỡng chế nhà nước hiệu quả nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng chế định này trực tiếp hạn chế quyền và tự do cá nhân được Hiến pháp ghi nhận. Thực tiễn áp dụng còn bộc lộ nhiều vi phạm nghiêm trọng như lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giam quá hạn, tư tưởng "bắt thay cho điều tra", dùng nhục hình, và tình trạng áp dụng, thay thế, hủy bỏ tạm giam chịu sự tác động tiêu cực. Đáng chú ý, trung bình hàng năm có gần một trăm người bị oan do người có thẩm quyền tố tụng gây ra, gây tổn hại nặng nề cho cá nhân, gia đình người bị oan, làm phát sinh chi phí bồi thường và làm suy giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa làm sáng tỏ toàn diện khái niệm, bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, tiêu chí phân loại và nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa có định nghĩa pháp lý về biện pháp ngăn chặn; các quy phạm thuộc chế định này còn tản mát ở nhiều chương khác nhau; các quy định về bắt bị can, bị cáo để tạm giam, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú (các điều 80, 86, 91) đều không có căn cứ áp dụng cụ thể; căn cứ khởi tố bị can (Điều 126) thiếu rõ ràng về định tính và định lượng; quy định về bắt giữ trong Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý mâu thuẫn với quy định về bắt và tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan còn tồn tại nhiều bất cập.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cụ thể của chế định các biện pháp ngăn chặn, khảo sát thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp này và thực tiễn bồi thường thiệt hại cho người bị oan, từ đó xác định nguyên nhân của các hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định hai nhóm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Về mặt lý luận:
    1. Xây dựng khái niệm khoa học về biện pháp ngăn chặn bảo đảm tính khoa học, logic, chính xác, thể hiện rõ bản chất pháp lý; xác định các tiêu chí, căn cứ phân loại, phân biệt và ý nghĩa của chúng.
    1. Phân tích các nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.
    1. Hệ thống hóa sự hình thành và phát triển của chế định từ thời kỳ phong kiến đến thời điểm nghiên cứu để kế thừa các giá trị lập pháp tiến bộ.
  1. Về mặt thực tiễn:
    1. Nghiên cứu, đánh giá các quy phạm về biện pháp ngăn chặn theo bốn tiêu chí (đối tượng, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục), quy phạm bắt tạm giữ để dẫn độ và quy định bồi thường cho người bị oan theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH.
    1. Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn và việc bồi thường oan sai, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân.
    1. Đề xuất sự cần thiết, quan điểm và phương hướng hoàn thiện chế định các biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi nội dung và không gian: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận (khái niệm, bản chất pháp lý, căn cứ, chủ thể, đối tượng, mục đích, phân loại, nguyên tắc); phân tích các quy phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý mà Việt Nam đã ký kết, Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH; khảo sát thực tiễn áp dụng trên phạm vi toàn quốc dựa trên báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong 11 năm liên tục (1998 - 2008), chia làm hai giai đoạn 1988 - 2002 (áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988) và 2003 - 2008 (áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Đánh giá thực tiễn bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH trong 4 năm (2003 - 2006).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân nhóm theo nguồn nghiên cứu quốc tế và trong nước:

Ở nước ngoài, tác giả khảo sát các công trình tại Liên Xô trước đây và Liên bang Nga:

  • Nhóm nghiên cứu về biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự gồm: M. Trenlnôv (1954), M. Strôgôvich (1958), P. Jakimop (1961), I. Karpes (1961), A. Philiusencô (1974), E. Kliukôp (1974), Z. Kovriga (1975), N. Ogursov (1976), P. Đavưđôp (1976), G. Capkicôv (1978), V. Kornukov (1978), I. Pêtrukhin (1985).
  • Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp ngăn chặn gồm: P. Đavưđôp (1953), Iu. Livsix (1964), Z. Enhikeev (1982), I.K Trunova (2003). Các công trình này đã làm sáng tỏ khái niệm, căn cứ, thẩm quyền, mục đích, ý nghĩa và bản chất cưỡng chế mang tính phòng ngừa của biện pháp ngăn chặn, song còn bỏ ngỏ nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ và căn cứ phân loại toàn diện.

Ở trong nước, các công trình được phân chia thành:

  • Nhóm nghiên cứu chung và nâng cao hiệu quả áp dụng: TS. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Nguyễn Minh Ngọc (2003), TS. Trần Quang Tiệp (2005), Lại Văn Trình (2006).
  • Nhóm nghiên cứu toàn diện hoặc từng biện pháp cụ thể: ThS. Nguyễn Mai Bộ (1998, 2003), Đinh Văn Quế (1999), Bùi Kiên Điện (1999), TS. Nguyễn Duy Thuân (1999), Đặng Xuân Đào (2001), TS. Trịnh Văn Thanh (2001), ThS. Nguyễn Trọng Phúc (2002), Nguyễn Văn Oanh (2003), Đinh Hữu Tời (2003), Mai Bộ và Hoàng Ngọc Thành (2003), Tạ Tấn Phong (2003), TS. Trần Quang Tiệp (2006), Phan Hữu Kỳ và Phạm Quang Mỹ.
  • Các giáo trình và bình luận khoa học: Giáo trình của Đại học Quốc gia Hà Nội (2001, do TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên), Giáo trình của Học viện Cảnh sát nhân dân / Đại học Công an nhân dân (2003 do GS.TS Đỗ Ngọc Quang chủ biên; 2006 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên), Giáo trình của Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình của Trường Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (2007 do TS. Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự (2007 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên).
  • Ở cấp độ luận án tiến sĩ gần nhất, luận án năm 2003 của Nguyễn Văn Điệp chỉ nghiên cứu ba biện pháp tác động lên thể chất là bắt, tạm giữ, tạm giam.

Về khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây mới tiếp cận từng biện pháp đơn lẻ hoặc phạm vi một chương giáo trình; chưa nghiên cứu quy phạm bắt tạm giữ để dẫn độ trong các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý; chưa nghiên cứu quy định và thực tiễn bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH; chưa đưa ra định nghĩa biện pháp ngăn chặn chứa đựng đầy đủ 5 tiêu chí; chưa phân loại theo 3 căn cứ mới; chưa đánh giá thực tiễn liên tục 11 năm (1998 - 2008) theo cả hai bộ luật tố tụng hình sự và chưa bám sát các định hướng cải cách tư pháp của Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận là quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong thời kỳ cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Luận án cũng kế thừa tri thức từ các chuyên ngành khoa học pháp lý liên quan như triết học, lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự và luật tố tụng hình sự.

Khung phân tích lý thuyết của tác giả tập trung vào các khái niệm và cấu trúc cốt lõi:

  • Khái niệm "ngăn chặn" và "biện pháp" theo ngữ nghĩa học để đi đến bản chất của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là cách thức chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại của tội phạm.
  • Bản chất pháp lý: Được xác định là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa, chịu sự điều chỉnh của phương pháp "quyền uy", tác động lên thể chất hoặc tâm lý của đối tượng, hoàn toàn phân biệt với hình phạt và không phải là giai đoạn bắt đầu thực thi trách nhiệm hình sự.
  • Căn cứ áp dụng: Được phân tích thành hai nhóm tài liệu thực tế: nhóm tài liệu dự báo khả năng thực hiện hành vi bất lợi (trốn tránh, cản trở xác định sự thật, tiếp tục phạm tội) và nhóm chứng cứ khẳng định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, trong đó phương pháp phân tích, thống kê và so sánh giữ vai trò chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử: Sử dụng để hệ thống hóa sự hình thành và phát triển của các quy phạm biện pháp ngăn chặn qua các giai đoạn lập pháp tại Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến thời điểm nghiên cứu.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ các quan điểm học thuật, chuẩn hóa các khái niệm, phân tích nội dung các quy phạm trong văn bản luật và các bất cập nội tại.
  • Phương pháp so sánh: Dùng để đối chiếu các quan điểm học thuật trong và ngoài nước; phân biệt biện pháp ngăn chặn với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác; so sánh quy định giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003; so sánh luật trong nước với các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý.
  • Phương pháp thống kê: Khảo sát, phân tích các bảng số liệu, tổng hợp dữ liệu thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong 11 năm và bồi thường oan sai trong 4 năm.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1992; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003; Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003; các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý song phương; các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp trung ương.
  • Nguồn số liệu thực tiễn: Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về "Tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù" liên tục từ năm 1998 đến năm 2008; Báo cáo của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương về kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị; Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế về thực hiện Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH; các tài liệu rút ra từ các đề tài nghiên cứu cấp bộ và chuyên đề khoa học do chính tác giả công bố từ năm 2002 đến năm 2008.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định các biện pháp ngăn chặn qua ba nội dung lớn:

Thứ nhất, tác giả phân tích khái niệm biện pháp ngăn chặn dựa trên việc đánh giá ưu điểm và hạn chế của các định nghĩa trong và ngoài nước (Z. Enhikeev, P. Đavưđôp, Iu. Livsic, M. Strogovich, I. Karpes, Từ điển Luật học, Trịnh Văn Thanh, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Vạn Nguyên, Phan Hữu Kỳ và Phạm Quang Mỹ). Tác giả bác bỏ các quan điểm đồng nhất biện pháp ngăn chặn với hình phạt hoặc coi biện pháp ngăn chặn là sự bắt đầu thi hành trách nhiệm hình sự. Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Tác giả làm rõ năm tiêu chí cấu thành biện pháp ngăn chặn: bản chất pháp lý (cưỡng chế mang tính phòng ngừa); căn cứ áp dụng (nhóm tài liệu dự báo hành vi bất lợi và nhóm tài liệu chứng minh tội phạm); chủ thể có quyền áp dụng (người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra và công dân khi bắt quả tang); đối tượng bị áp dụng (người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo); mục đích áp dụng (ngăn chặn tội phạm, bảo đảm tiến độ tố tụng và thi hành án). Tác giả đồng thời phân tích bản chất biện pháp giám sát người chưa thành niên phạm tội (Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự) và khẳng định đây là một biện pháp ngăn chặn độc lập.

Bên cạnh đó, tác giả lập luận phân biệt biện pháp ngăn chặn với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác qua bảng đối chiếu các đặc điểm:

Tiêu chí phân biệt Các biện pháp ngăn chặn Các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác
Nội dung cưỡng chế Hạn chế quyền và tự do cá nhân (cách ly khỏi cộng đồng hoặc ràng buộc tâm lý, tài sản); tại một thời điểm chỉ áp dụng một biện pháp đối với một người. Tác động thu giữ chứng cứ hoặc duy trì trật tự tố tụng; không áp dụng nguyên tắc chỉ áp dụng một biện pháp duy nhất tại một thời điểm.
Đối tượng áp dụng Giới hạn trong 3 diện đối tượng: người liên quan tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo. Rộng hơn: bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người vi phạm trật tự phiên tòa.
Mục đích áp dụng Kịp thời ngăn chặn tội phạm; bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Thu thập, bảo quản chứng cứ hoặc bảo đảm trật tự phiên tòa, hỗ trợ mục đích giải quyết vụ án.
Số lượng và tính hệ thống Gồm 7 biện pháp tạo thành một hệ thống thống nhất tại Chương VI và Điều 304. Gồm nhiều biện pháp độc lập, không tạo thành hệ thống riêng (khám xét, kê biên, áp giải, dẫn giải...).

Về phân loại, luận án thiết lập ba căn cứ:

  • Theo đối tượng tác động: Nhóm tác động lên thể chất (bắt, tạm giữ, tạm giam) và nhóm tác động lên tâm lý, tài sản (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, giám sát người chưa thành niên).
  • Theo sự cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng: Nhóm cách ly khỏi cộng đồng (tạm giữ, tạm giam) và nhóm không cách ly khỏi cộng đồng (các biện pháp còn lại).
  • Theo sự phê chuẩn của Viện kiểm sát: Nhóm áp dụng phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát và nhóm áp dụng không phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát.

Thứ hai, tác giả luận giải ba nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân; nguyên tắc quán triệt phương châm "không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội".

Thứ ba, tác giả khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ: thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long); thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1988 (Sắc lệnh số 13-SL năm 1946, Thông tư số 121/VKS-P1 năm 1972...); thời kỳ thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, rút ra các giá trị tiến bộ và nhân đạo cần kế thừa.

Chương 2: Những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chế định các biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng

Chương này chia làm ba nội dung phân tích thực định và đánh giá thực tiễn:

Nội dung 2.1 phân tích các quy phạm hiện hành trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 theo bốn tiêu chí thống nhất (đối tượng, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục) đối với từng biện pháp: bắt (gồm bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam), tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, và giám sát người chưa thành niên phạm tội. Tác giả đồng thời phân tích các quy định về bắt, tạm giữ để dẫn độ trong các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý. Qua đó, tác giả phát hiện nhiều lỗ hổng lập pháp:

  • Quy phạm về bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80), tạm giữ (Điều 86) và cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91) đều không có quy định về căn cứ áp dụng cụ thể.
  • Quy định căn cứ khởi tố bị can tại Điều 126 không rõ ràng về định lượng và định tính, ảnh hưởng trực tiếp đến tính có căn cứ khi ra quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
  • Các quy phạm biện pháp ngăn chặn chưa được tập trung trọn vẹn tại Chương VI mà nằm rải rác ở các chương khác (như Điều 304 về giám sát người chưa thành niên thuộc Chương XXXII).
  • Quy định về bắt giữ người trong Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý có sự không tương thích với khái niệm bắt và tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Nội dung 2.2 đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong 11 năm (1998 - 2008) thông qua các báo cáo thực tế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và địa phương:

  • So sánh thực tiễn áp dụng giữa giai đoạn 1988 - 2002 (theo Bộ luật năm 1988) và giai đoạn 2003 - 2008 (theo Bộ luật năm 2003).
  • Chỉ ra các tồn tại nổi cộm: tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp; tư tưởng xem việc bắt giữ là phương tiện thay thế cho hoạt động thu thập chứng cứ ("bắt thay cho điều tra"); lạm dụng tạm giam đối với các vụ án không thật sự cần thiết; tình trạng tạm giam quá hạn; bức cung, nhục hình gây chết người; và tỷ lệ áp dụng các biện pháp ngăn chặn không tước tự do (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản) còn rất thấp, kém hiệu quả do thiếu cơ chế hướng dẫn thi hành chặt chẽ.

Nội dung 2.3 phân tích thực tiễn bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền tố tụng gây ra theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH trong 4 năm (2003 - 2006):

  • Phản ánh số liệu trung bình hàng năm có gần một trăm người bị oan sai trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn.
  • Phân tích những vướng mắc của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH: diện đối tượng được bồi thường còn hẹp; trách nhiệm bồi thường của cơ quan có thẩm quyền chưa rõ ràng; quy định về nghĩa vụ bồi hoàn giữa những người tiến hành tố tụng cùng có lỗi chưa bảo đảm tính công bằng; thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại còn nhiều bất cập gây khó khăn cho việc phục hồi quyền lợi cho người bị oan.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chế định các biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương này gồm ba nhóm vấn đề nhằm hoàn thiện chế định:

Nội dung 3.1 xác định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW, khắc phục các bất cập lý luận và giải quyết tình trạng vi phạm quyền công dân, oan sai trong thực tiễn.

Nội dung 3.2 đề xuất các quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật:

  • Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người.
  • Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và logic nội tại của hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
  • Bảo đảm tính khả thi và nguyên tắc "tiết kiệm", hạn chế tối đa việc áp dụng các biện pháp cách ly thể chất khi không cần thiết.
  • Kế thừa các giá trị lập pháp truyền thống của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp tiến bộ của các nước.

Nội dung 3.3 đưa ra các giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện lập pháp: Bổ sung định nghĩa pháp lý hoàn chỉnh về biện pháp ngăn chặn vào Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật hóa các căn cứ áp dụng cụ thể cho từng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80), tạm giữ (Điều 86), cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91); chuẩn hóa định tính và định lượng cho căn cứ khởi tố bị can (Điều 126); tập hợp các quy phạm về biện pháp ngăn chặn vào chung một chương; sửa đổi, bổ sung quy định về bắt giữ dẫn độ trong Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý để bảo đảm tính tương thích.
  • Hoàn thiện cơ chế thi hành và bồi thường: Quy định rõ cơ chế kiểm sát và căn cứ nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp và tạm giam; định lượng hợp lý thời hạn tạm giam theo từng loại tội phạm; mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản; sửa đổi Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH để mở rộng diện đối tượng được bồi thường, phân định rõ trách nhiệm bồi hoàn công bằng giữa những người tiến hành tố tụng có lỗi; tiếp thu thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam tại phiên tòa của Tòa án.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định sáu điểm mới về mặt khoa học:

  1. Luận án phân tích ưu điểm và hạn chế của các khái niệm khoa học trong và ngoài nước, từ đó xây dựng định nghĩa khoa học về biện pháp ngăn chặn dựa trên 5 tiêu chí: bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng; lập luận khẳng định bản chất pháp lý của biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nhà nước và tính phòng ngừa.
  2. Luận án phân loại các biện pháp ngăn chặn theo ba căn cứ (đối tượng tác động; việc cách ly ra khỏi cộng đồng; sự phê chuẩn của Viện kiểm sát) và chỉ ra ý nghĩa lý luận, thực tiễn của việc phân loại.
  3. Luận án phân tích ba nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn nhằm quán triệt phương châm "không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội".
  4. Luận án phân tích nội dung từng biện pháp ngăn chặn cụ thể theo các tiêu chí thống nhất (đối tượng, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thực hiện), làm rõ các trường hợp thay thế, hủy bỏ; phát hiện các thiếu sót lập pháp (Điều 80, 86, 91 thiếu căn cứ áp dụng; Điều 126 thiếu định lượng, định tính; mâu thuẫn trong bắt giữ dẫn độ) và chỉ ra các điểm bất cập của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH.
  5. Luận án khảo sát, đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn qua 11 năm (1998 - 2008) theo hai giai đoạn tương ứng với hai bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời đánh giá thực tiễn 4 năm (2003 - 2006) thực hiện bồi thường oan sai theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH, xác định các hạn chế và nguyên nhân tồn tại.
  6. Luận án xác lập sự cần thiết, quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện hoàn thiện chế định biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp.

Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất sửa đổi cụ thể Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (bổ sung căn cứ áp dụng cho các Điều 80, 86, 91; bổ sung định nghĩa Điều 79; chuẩn hóa Điều 126), sửa đổi cơ chế bồi thường oan sai theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH, và thiết lập cơ chế kiểm soát bắt khẩn cấp, tạm giam, nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp thay thế tại cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo số liệu báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2008, và số liệu bồi thường oan sai theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2006. Về mặt không gian địa phương, các khảo sát chuyên sâu chỉ tập trung vào địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế. Bên cạnh đó, luận án được hoàn thành vào năm 2010 nên các phân tích thực định chỉ dừng lại ở khuôn khổ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra nhu cầu tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật khi có các đạo luật mới thay thế; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát tư pháp độc lập của Tòa án đối với các lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; nghiên cứu cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; và hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các giai đoạn cải cách tư pháp tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các đối tượng cụ thể:

  • Đối với cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là việc xây dựng định nghĩa pháp lý tại Điều 79, luật hóa căn cứ áp dụng tại các Điều 80, 86, 91, và hoàn thiện các quy định về tương trợ tư pháp hình sự cũng như pháp luật bồi thường nhà nước.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Cung cấp các tiêu chí thống nhất để đánh giá tính có căn cứ khi áp dụng, thay thế, hủy bỏ từng biện pháp; quán triệt nguyên tắc "tiết kiệm", giúp hạn chế tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, giảm tỷ lệ tạm giam không cần thiết và phòng ngừa oan sai.
  • Đối với các cơ sở đào tạo luật học và người nghiên cứu: Là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu phục vụ giảng viên, học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, đặc biệt là hệ thống lý luận ở Chương 1 và phương pháp khảo sát thực tiễn 11 năm ở Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm khoa học về biện pháp ngăn chặn được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Luận án phân loại các biện pháp ngăn chặn dựa trên những căn cứ nào?
Luận án đưa ra ba căn cứ phân loại:

  1. Căn cứ vào đối tượng tác động (tác động lên thể chất hoặc tác động lên tâm lý, tài sản).
  2. Căn cứ vào việc cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng (nhóm cách ly khỏi cộng đồng và nhóm không cách ly khỏi cộng đồng).
  3. Căn cứ vào sự phê chuẩn của Viện kiểm sát (nhóm bắt buộc phải có phê chuẩn và nhóm không phải có phê chuẩn).

Luận án phát hiện những bất cập cụ thể nào trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003?
Luận án chỉ rõ: Bộ luật năm 2003 chưa có định nghĩa pháp lý về biện pháp ngăn chặn; các quy định về căn cứ áp dụng đối với bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80), tạm giữ (Điều 86), cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91) đều bị bỏ trống; căn cứ khởi tố bị can (Điều 126) thiếu định lượng và định tính; quy phạm nằm rải rác ngoài Chương VI (như Điều 304); và quy định bắt giữ dẫn độ trong các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý mâu thuẫn với quy định về bắt, tạm giữ trong nước.

Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn giai đoạn 1998 - 2008 và bồi thường oan sai giai đoạn 2003 - 2006 có những hạn chế gì nổi bật?
Thực tiễn giai đoạn này tồn tại tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp; tư tưởng "bắt thay cho điều tra"; lạm dụng tạm giam và tạm giam quá hạn; xảy ra các vụ bức cung, nhục hình gây chết người; tỷ lệ áp dụng các biện pháp không giam giữ rất thấp. Về oan sai, trung bình mỗi năm có gần một trăm người bị oan; việc bồi thường theo Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH gặp vướng mắc do diện đối tượng hẹp, trách nhiệm cơ quan tố tụng chưa rõ ràng, thiếu công bằng trong quy định bồi hoàn và thời hiệu yêu cầu bồi thường bất cập.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Phúc là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Tác giả đã chuẩn hóa khái niệm biện pháp ngăn chặn theo 5 tiêu chí, phân loại theo 3 căn cứ, chỉ ra các lỗ hổng lập pháp của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và bất cập của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tiễn 11 năm áp dụng biện pháp ngăn chặn và 4 năm bồi thường oan sai, luận án đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học xác đáng, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, hạn chế oan sai và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp tại Việt Nam.