Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ, PHÂN BIỆT VÀ PHÂN LOẠI CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN Để thực hiện nhiệm vụ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, BLTTHS cho phép cơ quan THTT áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cưỡng chế TTHS. Các biện pháp cưỡng chế ấy được hầu hết các giáo trình luật TTHS Việt Nam chia ra làm ba nhóm, như sau: a) Nhóm thứ nhất, các BPNC, gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; b) Nhóm thứ hai, các biện pháp thu thập chứng cứ, gồm: khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể; thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm; tạm giữ đồ vật là vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án; c) Nhóm thứ ba, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, gồm: kê biên tài sản; áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải người làm chứng; tạm đình chỉ chức vụ của bị can; những biện pháp kỷ luật người vi phạm trật tự phiên tòa. Trong ba nhóm biện pháp cưỡng chế TTHS nói trên, thì các BPNC thuộc nhóm thứ nhất chiếm vị trí trung tâm và vai trò quan trọng hơn cả.
Bởi vì nhiều lẽ: thứ nhất, nó có khả năng ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, việc bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, ngăn ngừa phạm tội mới và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm góp phần hạn chế tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; thứ hai, việc áp dụng các BPNC làm hạn chế một 18 z số quyền và tự do cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật và có mức độ hạn chế nghiêm khắc hơn so với các biện pháp khác trong TTHS; thứ ba, nếu việc áp dụng các BPNC đối với người bị oan có thể gây ra hậu quả rất nghiêm trọng không những đối với cá nhân người bị áp dụng mà cả gia đình họ, đồng thời, làm mất uy tín của cả hệ thống cơ quan tư pháp, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vấn đề tự do cá nhân và bảo đảm các quyền công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận, như: a) Công dân có quyền bất khả xâm phạm thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm; b) Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật; c) Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự nhân phẩm của công dân, đồng thời, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nên thể hiện trong nhiều văn bản trước đây và gần đây nhất là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: "Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người" [21, tr. Với tinh thần đó, BLTTHS hiện hành có quy định các nguyên tắc, như: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong TTHS; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, v.v… Việc áp dụng các BPNC luôn đi đôi với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân, như: tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bảo hộ về tài sản, v.v… Mặc dù, việc áp dụng các BPNC gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng lại bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân 19 z khác, như: người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Bảo vệ các quyền và tự do ấy trong TTHS có ý nghĩa chính trị - pháp lý và trên bình diện chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ngoài ra, việc áp dụng các BPNC còn loại bỏ được những cản trở đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án từ phía bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, bảo đảm cho việc nghiên cứu đầy đủ, khách quan, toàn diện đối với vụ án. Chính vì vậy, các BPNC là phương tiện cần thiết của Nhà nước bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chính điều đó thể hiện ý nghĩa xã hội của chúng trong việc giải quyết tội phạm.
Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy việc áp dụng các BPNC đã kịp thời chặn đứng được tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, góp phần làm giảm tình hình tội phạm. Tuy nhiên, trong việc thi hành đó vẫn xảy ra vi phạm pháp luật, như: lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm dụng tạm giam, tạm giam quá hạn, dùng nhục hình, tra tấn gây chết người và đặc biệt, trung bình hàng năm có gần một trăm người bị oan; v.v… Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm BPNC và nội dung của nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức của người THTT, bảo đảm cho việc áp dụng các BPNC đạt hiệu quả cao hơn. Khái niệm biện pháp ngăn chặn Một trong những nội dung cơ bản của công cuộc phòng ngừa và ĐTCTP là: "Cần thiết phải phát hiện, điều tra khám phá kịp thời mọi tội phạm xảy ra. Đảm bảo tội phạm không thể không bị phát hiện, điều tra xử lý.
Không một người phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật" [98, tr. Để thực hiện công việc đó, cơ quan chức năng phải áp dụng các BPNC như là những phương tiện có hiệu quả nhất để ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, ngăn chặn phạm tội mới. Các BPNC là cơ sở pháp lý có ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phòng ngừa và ĐTCTP, đồng thời, là biện pháp hạn chế một số quyền và tự do cá 20 z nhân nên chúng được quan tâm không những từ phía các nhà lập pháp mà cả những nhà nghiên cứu khoa học luật TTHS ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Các chuyên gia luật học của nước ngoài có những khái niệm khác nhau về BPNC, các BPNC như: Z.
Enhikeev cho rằng: "Các biện pháp ngăn chặn là một phạm trù đặc biệt, có ý nghĩa phòng ngừa" [Dẫn theo 37, tr. Tác giả đã đúng khi xác định BPNC có ý nghĩa phòng ngừa, nhưng lại không đề cập đến căn cứ áp dụng, đối tượng bị áp dụng, cũng như chủ thể có quyền áp dụng và còn làm khó hiểu, trừu tượng nó là "phạm trù đặc biệt". Đavưđop nhận thấy: Biện pháp ngăn chặn như là biện pháp cưỡng chế được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng theo trình tự được pháp luật tố tụng hình sự quy định đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm, bị can hay bị cáo với mục đích ngăn chặn việc bỏ trốn của họ khỏi sự điều tra, xét xử và tránh khỏi hình phạt, cũng như cản trở phanh phui sự thật và tính nguy hiểm cho xã hội của những người này khi họ đang tự do [Dẫn theo 100, tr. Livsic đánh giá quan niệm trên, như sau: "Xác định này rõ ràng hơn, nhưng lại dựa trên pháp luật tố tụng hình sự đã hết hiệu lực pháp luật và không vạch rõ được một số hướng tồn tại của chế định tố tụng hình sự này (ví dụ, đặc điểm phòng ngừa của nó)" [100, tr.
Strogovich cho rằng: "Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo với mục đích ngăn ngừa sự trốn tránh việc điều tra, xét xử" [Dẫn theo 37, tr. Tác giả đã đúng khi cho rằng các BPNC là những biện pháp cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo, nhưng có sự nhầm lẫn giữa mục đích và căn cứ áp dụng chúng. Livsic xác định: 21 z Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Xô viết là biện pháp cưỡng chế nhà nước có đặc điểm phòng ngừa, được Cơ quan điều tra sơ bộ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can (trong trường hợp hạn hữu, áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm) chỉ trong trường hợp rõ ràng cần thiết cho thực hiện nhiệm vụ tư pháp hình sự xã hội chủ nghĩa, với mục đích ngăn cản nó bỏ trốn khỏi điều tra, Tòa án, loại bỏ khả năng của nó gây ảnh hưởng đến thiết lập sự thật vụ án, tiếp tục hoạt động phạm tội và để bảo đảm thực hiện bản án. Các biện pháp này được áp dụng trong sự tương ứng nghiêm chỉnh với pháp luật tố tụng hình sự và tính đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can (người bị nghi thực hiện tội phạm), bị cáo và người đang thi hành án [100, tr.
Tác giả đã xác định đúng bản chất và đặc điểm của các BPNC, nhưng không đề cập đến căn cứ áp dụng chúng. Từ các khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm của khái niệm BPNC, gồm: - Bản chất pháp lý: sự cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa; - Quyền lựa chọn BPNC; - Cơ quan (người) có thẩm quyền: Điều tra viên, Dự thẩm viên, Tòa án; - Đối tượng bị áp dụng: người bị nghi thực hiện tội phạm (bị can), bị cáo và người đang thi hành án; - Mục đích áp dụng: ngăn chặn việc bỏ trốn của họ khỏi hình phạt, cũng như cản trở phanh phui sự thật và tính nguy hiểm cho xã hội và ngăn ngừa phạm tội mới. Những khái niệm khoa học trên về BPNC của các nhà luật học nước ngoài có nhiều điểm khác nhau.