CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc trưng về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Theo triết học Mac-Lenin, để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có 3 yếu tố cơ bản: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
Để có được 3 yếu tố này, doanh nghiệp cần một lượng vốn tiền tệ nhất định để đầu tư mua sắm. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. VKD của doanh nghiệp được hiểu bao gồm: Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý.; Tài sản bằng hiện vật như: nhà cửa , kho tàng, cửa hàng.; Tài sản phi hiện vật như bản quyền, sở hữu trí tuệ.
Từ những phân tích trên có thể hiểu vốn kinh doanh như sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp Vốn là điều kiện tiền đề của sản xuất kinh doanh Đầu tiên vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp, là gốc rễ của doanh nghiệp. Về mặt pháp luật, mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại hình doanh nghiệp), doanh nghiệp nào cũng phải đăng ký vốn điều lệ và hồ sơ xin đăng ký kinh doanh. Đối với một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng, Kinh doanh tiền tệ và kinh doanh bất động sản thì Nhà nước có quy định số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp (gọi là Vốn pháp định), nếu lượng vốn ban đầu không đạt đủ vốn pháp định thì việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được.
Như 6 vậy, vốn được coi là điều kiện tiên quyết, một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật. Tại Việt Nam hiện nay các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, có thể phân loại theo nhiều tiêu chí. Trong đó, dựa vào tiêu chí quy mô vốn kinh doanh, người ta chia doanh nghiệp thành các loại hình doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 thì các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn kinh doanh dưới 20 tỷ đồng là doanh nghiệp nhỏ, từ 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, và trên 100 tỷ đồng là doanh nghiệp lớn.
Vì vậy quy mô của nguồn vốn kinh doanh là cơ sở để phân định loại hình doanh nghiệp. Về mặt kinh tế, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần có vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp, vốn điều lệ sẽ là nền móng cho doanh nghiệp đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành của doanh nghiệp trong hiện tại và phát triển trong tương lai. Một quá trình SXKD sẽ được diễn ra khi có các yếu tố: yếu tố vốn, yếu tố lao động, yếu tố công nghệ.
Trong ba yếu tố thì yếu tố vốn là điều kiện tiền đề có vai trò quan trọng. Nó quyết định đầu tiên việc SXKD có thành công hay không. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục, thường xuyên. Vốn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực SXKD của doanh nghiệp và xác lập vị thế trên thị trường.
Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ… Tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn. Vốn quyết định sự liên tục và ổn định của doanh nghiệp Trong hoạt động tài chính, việc sử dụng vốn có hiệu quả có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò này thể hiện 7 ngay từ khi thành lập doanh nghiệp thiết lập các dự án đầu tư và song hành với sự sống của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn những lĩnh vực SXKD hợp lý, hiệu quả, đảm bảo an toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, huy động tài trợ dễ dàng, khả năng thanh toán đảm bảo, có đủ tiềm lực khắc phục khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh.
Vốn là yếu tố quyết định doanh nghiệp nên mở rộng hay thu hẹp phạm vi hoạt động của mình. Khi đồng vốn của doanh nghiệpcàng sinh sôi nảy nở, thì doanh nghiệp sẽ mạnh dạn mở rộng phạm vi hoạt động vào các lĩnh vực tiềm năng mà trước đó doanh nghiệp chưa có điều kiện thâm nhập và ngược lại khi đồng vốn bị hạn chế thì doanh nghiệp nên tập trung vào một số hoạt động mà doanh nghiệp có lợi thế trên thị trường. Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp Muốn tồn tại thì doanh nghiệp phải phát triển, phải cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác, trong đó nguồn vốn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị, nguyên liệu hay phân phối, quảng cáo cho sản phẩm đều phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo chất lượng, hạ giáthành, giá bán sản phẩm, đẩy mạnh các hoạt động quảng cáo khuyến mại, từ đó nâng cao được sức cạnh tranh trên thị trường. Vốn, với đặc trưng của nó là phải vận động để sinh lời, do vậy, một khi đã tồn tại được trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải ngày càng phát triển. Đặc điểm của vốn kinh doanh Vốn trong kinh doanh ngoài biểu hiện bằng tiền nó còn được biểu hiện bằng hiện vật như nhà cửa, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hoá…Tuy nhiên không phải tiền nào cũng được coi là vốn. Tiền tiêu dùng trong lưu thông để mua bán, trao đổi 8 các hàng hoá tiêu dùng không phải là vốn, hàng hoá tiêu dùng cho cá nhân cũng không được coi là vốn.
Tiền và hàng hoá chỉ được coi là vốn khi chúng tham gia vào quá trình SXKD và tạo ra thêm giá trị. Vậy tiền muốn được gọi là vốn phải thoả mãn các điều kiện sau: - Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định. Nói khác đi tiền phải được đảm bảo bởi một lượng tài sản thực. - Tiền phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định, đủ để tiến hành kinh doanh.
- Khi đã có đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Từ những phân tích trên, tác giả rút ra những đặc điểm cụ thể của vốn kinh doanh như sau: Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị tiền tệ của tài sản tham gia vào quá trình SXKD như nhà cửa, máy móc, thiết bị sản xuất… Thứ hai, vốn phải được tích tụ tập trung thành một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể giúp doanh nghiệp thực hiện SXKD. Thứ ba, vốn phải vận động sinh lời. Vốn chủ yếu được biểu hiện dưới dạng tiền tệ, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, vì vậymuốn tiền thực sự trở thành vốn thì tiền đó phải vận động vì mục đích sinh lời.
Trong quá trình vận động, vốn sẽ thay đổi hình thái khác nhau tuỳ từng giai đoạn nhưng bắt đầu và kết thúc vẫn phải là tiền và lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền ban đầu bỏ ra. Sơ đồ vận động của vốn kinh doanh trong một số lĩnh vực: - Trong lĩnh vực sản xuất: T- H-….-H’-T’ (Phạm Văn Sinh, Phạm Quang Phan ; 2013) - Trong lĩnh vực thương mại: T-….-T’ (Phạm Văn Sinh, Phạm Quang Phan ; 2013) - Trong lĩnh vực tài chính: T……T’ (trong đó T’ = T + T) (Phạm Văn Sinh, Phạm Quang Phan ; 2013) 9 Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này có nghĩa là tại những thời điểm khác nhau thì sức mua của đồng tiền khác nhau. Nguyên nhân của sự khác nhau như vậy là do ảnh hưởng của các yếu tố như: lạm phát, giá cả, cạnh tranh, khủng hoảng… Thứ năm, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định.
Tuy nhiên trong một vài trường hợp người sử dụng vốn và người sở hữu vốn không phải là một do sự tách biệt giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu, trong trường hợp này người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu một khoản tiền nhất định cho việc sử dụng vốn. Thứ sáu, vốn là một loại hàng hoá đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hóa thông thường khác. Thứ bảy, VKD không chỉ bao gồm giá trị tài sản hữu hình mà còn cả tài sản vô hình như: uy tín, thương hiệu, bằng sáng chế … Thông qua việc phân tích những đặc điểm của VKD ở trên, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của VKD trong doanh nghiệp. Việc hiểu rõ được những đặc điểm của VKD sẽ tạo điều kiện giúp doanh nghiệp khai thác, sử dụng, quản lý có hiệu quả nhất.
Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhằm giúp công tác huy động, sử dụng và quản lý vốn một cách hợp lý, hiệu quả, người ta thường phân loại VKD của doanh nghiệp thành nhiều loại, theo các tiêu thức nhất định. Căn cứ vào phương thức luân chuyển vốn kinh doanh Dựa theo đặc điểm luân chuyển của vốn trong các giai đoạn của chu kỳ SXKD, người ta chia ra toàn bộ vốn của doanh nghiệp thành hai loại vốn: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ). Đây cũng là phương thức phân loại phổ biến và sử dụng rộng rãi nhất.