CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về đặc điểm của doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu.
Xét theo quan điểm luật pháp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi [1. Xét theo quan điểm chức năng Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của Công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.Xét theo quan điểm phát triển Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 ) 1.Xét theo quan điểm hệ thống Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một 5 mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự.
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây: - Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính. - Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. - Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
- Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. Định nghĩa doanh nghiệp: Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. - Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp 6 với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội.
Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó.
- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó. Đặc điểm của doanh nghiệp 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Quyền của các doanh nghiệp nhà nước sử dụng và quản lý tài sản được nhà nước cấp phát là một vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức phức tạp, liên quan đến các quyền năng xuất phát từ sở hữu Nhà nước trong chế độ Xã hội chủ nghĩa, có khả năng ảnh hưởng các quyền và chịu các nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động kinh doanh của mình giới hạn vi tài sản do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp Nhà nước có quyền năng nhất định đối với tài sản thuộc thẩm quyền quản lý của mình.
Doanh nghiệp có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn dó Nhà nước giao. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân Mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân nếu có đủ các điều kiện luật định. Quá trình thành lập đăng ký kinh doanh, giải thể, thay thế, phá sản doanh nghiệp tư nhân tiến hành theo một trình tự nhất định theo luật định. Trong các hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân hành động nhân danh doanh nghiệp.
Nhưng khác với các loại hình doanh nghiệp khác doanh nghiệp 7 tư nhân không có tài sản riêng tách ra khỏi tài sản của chủ doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp là nguyên đơn, bị đơn trước tòa án và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình cho những nợ nần của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân Việt Nam. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện ở những lý do sau đây: - Thứ nhất: nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm.
Trước kia, dân cư còn ít mà của cải trên trái đất lại phong phú, chưa bị cạn kiệt vì khai thác sử dụng. Khi đó loài người chỉ chú ý phát triển kinh tế theo chiều rộng: Tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất như: Tư liệu sản xuất, đất đai… Nhưng thực tế, mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản… đều là hữu hạn và ngày càng khan hiếm, cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng. Và với dân số gần bảy tỷ người như hiện tại đòi hỏi con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng dẫn đến vấn đề kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc. Việc lựa chọn kinh tế tối ưu ở đây chính là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà không cần sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên nhiên.
- Thứ hai: Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm. Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu.
Lựa chọn sản xuất kinh doanh tối ưu chính là sử dụng tối thiểu các nguồn lực đầu vào để thu được lợi ích cao nhất. Vì vậy giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. - Thứ ba: Sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác nhau là khác nhau. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra cho cấp doanh nghiệp.
Mọi quyết định kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế 8 nào? và sản xuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất là Nhà nước. Doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung tâm đó và vì thế mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là hoàn thành kế hoạch mà Nhà nước giao. Do những hạn chế nhất định của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà không phải chỉ là các doanh nghiệp ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động kinh tế của mình mà trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch bằng mọi giá. Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề cơ bản của sản xuất dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác.
Các doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, tự xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, tự tìm đầu vào và đầu ra cho sản phẩm, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh.21] Mặt khác trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong cuộc cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất nhưng không ít doanh nghiệp đã bị thua lỗ, giải thể, phá sản.