CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm và vai trò tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời [14, tr7].
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể được nhận định là quá trình kết hợp giữa các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao động, từ đó tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [11, tr1]. Trong nền kinh tế thị trường, để đáp ứng đủ các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh nghiệp phải chuẩn bị lượng vốn tiền tệ sẵn có nhất định. Đối với từng loại hình tổ chức, các phương thức thích hợp được đưa ra để tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp có thể mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… Sau khi sản xuất xong, hàng hóa được bán ra và doanh nghiệp thu được tiền bán hàng.
Doanh nghiệp có thể sử dụng tiền từ hoạt động bán hàng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho Nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế. Doanh nghiệp tiếp tục sử dụng phần lợi nhuận sau thuế đó để phân phối cho các mục đích có tính chất tích lũy và tiêu dùng. Như vậy, quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tạo thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp có thể coi là quá trình hoạt động của doanh nghiệp. 6 Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Xét về hình thức, TCDN là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp [14, tr9]. TCDN có thể coi là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính nói chung và trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nói riêng. Các nhà quản lý ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp đều rất chú trọng thông tin về TCDN. Đối với các nhà quản lý của doanh nghiệp, để hoạch định kế hoạch tài chính, xác định phương hướng, mục tiêu trong đầu tư, tình hình tài chính là một căn cứ quan trọng, đồng thời chỉ rõ biện pháp sử dụng nguồn lực hợp lý để đạt hiệu quả cao.
Qua đó, các nhà quản lý đó sẽ phân tích nghiên cứu và đưa ra được những quyết định hợp lý cho mình. Dựa trên tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ xem xét đưa ra quyết định về khoản đầu tư; người cho vay cũng có kế hoạch cho các khoản đã cho doanh nghiệp vay; các cơ quan nhà nước có thể đánh giá việc chấp hành các chế độ về quản lý tài chính, thuế, an toàn môi trường, đảm bảo quyền lợi cho người lao động của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp TCDN là một mắt xích quan trọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi mới thành lập, TCDN tổ chức quá trình huy động vốn, phân bổ các nguồn lực để tổ chức kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các nguồn lực đầu tư, luân chuyển vốn, thu hồi vốn và phân phối kết quả kinh doanh được tổ chức sử dụng. Hiệu quả của hoạt động TCDN sẽ góp phần đánh giá được sự tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Nhiệm vụ chủ yếu của phân tích tài chính là thường xuyên giám sát, kiểm tra, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệp; đánh giá được mặt mạnh, điểm yếu, khả năng tiềm tàng trong từng lĩnh vực của hoạt động kinh tế, tài chính, từng mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với các bên có liên quan; từ đó cung cấp thông tin để các nhà quản lý ra quyết định điều 7 hành doanh nghiệp một cách kịp thời và hiệu quả. Như vậy, phân tích tài chính có vị trí quan trọng trong quá trình ra quyết định của các chủ thể quản lý.
Như vậy, sự ra đời, phát triển của phân tích tài chính gắn với sự ra đời, phát triển của hạch toán kế toán và quản lý tài chính. Hoạt động tài chính có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Tình hình tài chính có tốt hay xấu, hoạt động tài chính có hiệu quả hay không đều có ảnh hưởng thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động SXKD và kết quả hoạt động SXKD cũng có tác động ngược lại đến tình hình tài chính. Trong điều kiện hoạt động tốt thường xuyên liên tục, hoạt động tài chính vừa được coi là nguyên nhân, vừa được đánh giá là kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các quyết định tài chính của doanh nghiệp Các quyết định tài chính của doanh nghiệp chủ yếu được quan tâm đánh giá, cụ thể là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận. Quyết định đầu tư Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản cố định và tài sản lưu động) [14, tr10]. Các quyết định đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm: - Quyết định đầu tư tài sản lưu động: quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn, quyết định tồn kho, quyết định tồn quỹ, quyết định chính sách bán hàng… - Quyết định đầu tư tài sản cố định: quyết định đầu tư tài chính dài hạn, quyết định đầu tư dự án, quyết định mua sắm tài sản cố định… - Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản cố định và đầu tư tài sản lưu động: quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh, quyết định điểm hòa vốn. Quyết định nguồn vốn Quyết định nguồn vốn là những quyết định liên quan đến việc nên lựa chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các quyết định đầu tư [14, tr11].
Quyết 8 định nguồn vốn tác động đến bên phải bảng cân đối kế toán (phần Nguồn vốn). Các quyết định huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm: - Quyết định huy động vốn ngắn hạn: quyết định vay ngắn hạn hay sử dụng tín dụng thương mại - Quyết định huy động vốn dài hạn: quyết định vay để mua, hay thuê tài sản; quyết định phát hành vốn cổ phần; quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính); quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty… 1. Quyết định phân chia lợi nhuận Quyết định phân chia lợi nhuận tồn tại song hành với chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Các nhà quản lý sẽ phải nghiên cứu và lựa chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức, hay là giữ lại để tái đầu tư.
Những quyết định này ảnh hưởng tới việc doanh nghiệp nên theo đuổi một chính sách cổ tức ra sao và liệu chính sách cổ tức có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của công ty trên thị trường hay không. Nguyên tắc tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ thường là giống nhau nên các nguyên tắc TCDN đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những điểm khác biệt riêng nên khi áp dụng các nguyên tắc TCDN phải gắn với những điều kiện cụ thể. - Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận: Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận.
Nhà đầu tư có thể lựa chọn những dự án đầu tư khác nhau tùy thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn [10, tr18]. Khi nhà đầu tư chấp nhận rủi ro, bỏ tiền vào những dự án mạo hiểm cao thì lợi nhuận kỳ vọng đem lại sẽ ngày càng cao. - Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền: 9 Khái niệm giá trị thời gian của tiền cần được sử dụng để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về cùng một thời điểm, thường là trong thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của các nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi nhuận lớn hơn chi phí.
Trong trường hợp này, tỷ lệ chiết khấu được cho là chi phí cơ hội của vốn. - Nguyên tắc chi trả: Trong hoạt động kinh doanh, mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả cần được đảm bảo. Điều đáng quan tâm ở các doanh nghiệp là tình trạng của dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán. Tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí được đánh giá qua quá trình lưu chuyển tiền tệ, tái đầu tư của dòng tiền.
Hơn nữa, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà quản lý cần tính đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế. - Nguyên tắc sinh lợi: Nhà quản lý tài chính không chỉ coi trọng đánh giá các dòng tiền dự án đem lại mà còn coi trọng việc tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi. Trong thị trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó có thể kiếm được nhiều lợi nhuận cạnh tranh, nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài và khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt. Muốn vậy, các dự án sinh lợi tồn tại như thế nào và ở đâu trong môi trường cạnh tranh cần phải được khai thác.
Hơn nữa, khi đầu tư, với việc tạo ra những sản phẩm vượt trội khác biệt, phù hợp với thị yếu tiêu dùng theo từng giai đoạn sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo sự đột phá hơn so với đối thủ cạnh tranh, đổi mới nhưng vẫn đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh. - Nguyên tắc thị trường có hiệu quả: Trong kinh doanh, những quyết định nhằm tối đa hóa giá trị tài sản tác động tích cực làm thị giá cổ phiếu tăng.