Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước; Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Kiến An - Hải Phòng giai đoạn 2013-2017; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Kiến An - Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Khái niệm về chi thường xuyên và công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh [18, tr.
Công tác kiểm soát chi thường xuyên được xem là một công cụ đặc biệt quan trọng của nhà nước trong quá trình quản lý công qũy, giữ gìn kỷ luật tài chính nhà nước và hạn chế tình trạng tham nhũng, lãng phí công quỹ. Kiểm soát chi NSNN là sự tác động có tổ chức của cơ quan Nhà nước được giao nhiệm vụ lên hoạt động chi NSNN của các đơn vị sử dụng NSNN thông qua hệ thống các văn bản pháp luật quy định về quản lý chi NSNN nhằm phát hiện, ngăn chặn các khoản chi không đủ điều kiện, hướng tới mục tiêu đảm bảo cho các khoản chi được đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Kiểm soát chi NSNN qua KBNN: Là việc KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các khoản chi của NSNN [19, tr. Hoạt động kiểm soát chi NSNN qua KBNN bao gồm kiểm soát chi thường xuyên NSNN và kiểm soát chi đầu tư.
* Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN: - Chi thường xuyên mang tính ổn định: Xuất phát từ đặc điểm do sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn định 5 nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tính ổn định còn bắt nguồn từ sự ổn định trong từng hoạt động cụ thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy Nhà nước. - Chi thường xuyên mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc phòng, an ninh, trật tự, về các hoạt động sự nghiệp, các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Các khoản chi này gắn với tiêu dùng của Nhà nước và xã hội mà kết quả của chúng là tạo ra các hàng hóa và dịch vụ công cho hoạt động của Nhà nước và yêu cầu phát triển của xã hội.
- Chi thường xuyên luôn gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước: Các khoản chi thường xuyên luôn hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, do đó nếu bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên sẽ giảm, hiệu quả chi thường xuyên sẽ cao. * Phân loại: Có 2 phương thức phân loại chi thường xuyên ngân sách Nhà nước. - Chi thường xuyên cho các lĩnh vực [18, tr.2]: + Quốc phòng; + An ninh trật tự, an toàn xã hội; + Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; + Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; + Sự nghiệp văn hóa thông tin; + Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; + Sự nghiệp thể dục thể thao; + Sự nghiệp bảo vệ môi trường; + Các hoạt động kinh tế; + Hoạt động của các cơ quan nhà nước quảncác cơ quan: Chi cho các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên 6 cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; + Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật; + Chi đảm bảo xã hội, bao gồm cả chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội thep quy định của pháp luật. - Phân theo nội dung kinh tế [6, tr 94-108]: + Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp theo lương, học bổng, sinh hoạt phí… + Các khoản chi thanh toán dịch vụ công cộng; + Các khoản chi mua vật tư văn phòng; + Các khoản chi thông tin tuyên truyền; + Các khoản chi hội nghị, công tác phí; + Các khoản chi đoàn ra, đoàn vào; + Các khoản chi thuê mướn; + Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn; + Các khoản chi mua sắm tài sản; + Chi sửa chữa thường xuyên, duy tu, bảo dưỡng nhà cửa, tài sản; + Các khoản chi khác.
Khái niệm về công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Kiểm soát là thuật ngữ được dùng để chỉ những hoạt động của cá nhân, tổ chức trong và ngoài tổ chức giao nhiệm vụ, quyền hạn xem xét, đánh giá, xử lý đối với hành vi thực hiện các quy định chung của cá nhân tổ chức hữu quan. Kiểm soát là một tiến trình gồm các hoạt động giám sát nhằm đảm bảo rằng các hoạt động đó được thực hiện theo đúng như kế hoạch và điều chỉnh những sai sót quan trọng. Kiểm soát là một chức năng của quản lý. Kiểm soát không phải một 7 giai đoạn mà nó được thể hiện ở tất cả giai đoạn của quá trình thực hiện.
Trong quản lý, kiểm soát là công việc nhằm soát lại những quy định, những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ (những thao tác cụ thể) nhằm nắm bắt và điều hành những nghiệp vụ đó. Kiểm soát chi ngân sách là tổng thể các hoạt động của cá nhân và tổ chức có trách nhiệm nhằm bảo đảm cho các khoản chi ngân sách thực hiện đúng quy định, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm. Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) hiện hành quy định khi có nhu cầu chi, Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách gửi chứng từ thanh toán (đồng thời là lệnh chuẩn chi) tới Kho bạc Nhà nước (KBNN) cùng với hồ sơ thanh toán, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định của Luật theo phương thức thanh toán trực tiếp. Kiểm soát chi (KSC) là một trong những hoạt động nghiệp vụ quan trọng nhất của Hệ thống KBNN, KSC một mặt phải giám sát tính tuân thủ nhưng mặt khác cũng phải đảm bảo việc duy trì hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đẩy mạnh giải ngân để các dự án sớm hoàn thành đi vào sử dụng.
Kiểm soát chi ngân sách nhà nước là quá trình những cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn. Vì vậy, kiểm soát chi NSNN được đặt ra đối với mọi quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay đang phát triển. Kiểm soát chi NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN diễn ra theo các khâu của quy trình NSNN, từ lập dự toán, chấp hành dự toán được duyệt đến quyết toán NSNN nhằm đảm bảo mỗi khoản chi NSNN đều được dự toán từ trước, được thực hiện đúng theo dự toán được duyệt, đúng theo tiêu chuẩn định mức, tiêu chuẩn được duyệt và đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội. 8 Vậy kiểm soát chi cho con người tại KBNN là việc KBNN sử dụng các công cụ, nghiệp vụ của mình thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN về con người qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước.
Chi ngân sách Nhà nước (NSNN) bao gồm hai bộ phận chính là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, trong đó chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất và có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế- xã hội (KT-XH) đất nước. Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước. Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội. Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước 1.
Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN - Phải có trong dự toán chi NSNN năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt trừ trường hợp tạm cấp kinh phí (đầu năm chưa được cơ quan có thẩm quyền giao dự toán); - Đúng chế độ tiêu chuẩn định mức: Định mức tiêu chuẩn là căn cứ quan trọng để lập dự toán chi NSNN và là căn cứ để KBNN kiểm soát chi NSNN; trường hợp cơ quan đơn vị được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ. - Đã được chuẩn chi: chuẩn chi là sự đồng ý cho phép chi hoặc quyết định chi của chủ tài khoản là người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc người ủy quyền phê duyệt. 9 - Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ: mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ kèm theo các hồ sơ pháp lý theo đúng quy định.