Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng ESDM giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ 2-3 tuổi Chương 2: Thực trạng sử dụng ESDM giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ 2-3 tuổi trong môi trường chuyên biệt. Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm biện pháp sử dụng ESDM giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ 2-3 tuổi trong môi trường chuyên biệt. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ESDM GIÁO DỤC TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 2-3 TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu về can thiệp sớm giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ Các nghiên cứu về tiến hành đánh giá và CTS cho trẻ RLPTK: Hiệp hội Quốc tế về Nghiên cứu Tự kỷ (The International Society for Autism Research - INSAR) đã hỗ trợ để tác giả Vivanti và các cộng sự (Special Interest Group - SIG) nghiên cứu về việc thực hiện và đánh giá Can thiệp Sớm Dựa vào Cộng đồng với bài báo Thực hiện và đánh giá CTS cho trẻ tự kỷ: Khoảng trống ở đâu và chúng ta nên làm gì?, nhóm tác giả đã đưa ra một số vấn đề còn bất cập trong CTS hiện nay, cụ thể như (a) lý thuyết về việc hướng dẫn phát triển, đánh giá và thực hiện CTS; cũng như việc xây dựng các mục tiêu can thiệp phù hợp; (b) Sự phối kết hợp giữa các lực lượng tham gia vào quá trình này; (c) quá trình tiến hành can thiệp và thực hiện nghiên cứu trường hợp để kiểm nghiệm kết quả; (d) sử dụng nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng để hướng dẫn sự thích ứng của các mô hình can thiệp với môi trường cộng đồng; (e) bao gồm các cấu trúc liên quan đến quá trình thực hiện và kết quả trong các thử nghiệm điều trị và; (f) cách tiếp cận lặp đi lặp lại để nâng cao kiến thức từ phát triển can thiệp đến thực hiện [89]. Nghiên cứu về tầm quan trọng của CTS giáo dục đối với trẻ có RLPTK, với các tác giả tiêu biểu như Bartak và các cộng sự năm 1973 [23]. Tác giả Dawson và các cộng sự năm 1997 [32]. Tác giả Anderson và các cộng sự năm 1999 [20].
Tác giả Chakrabarti và các cộng sự năm 2001 [30]. năm 2019 đã nghiên cứu một tổng quan về CTS và kết quả cho thấy các trẻ được CTS đã có những bước tiến vượt bậc và cải thiện năng lực nhận thức rõ rệt ở trẻ RLPTK [78]. Tác giả Warren và các cộng sự năm 2011 đã có những tổng hợp về các phương pháp, chiến lược CTS cho trẻ RLPTK [91]. Tác giả Corsello và các cộng sự đã có bài viết về CTS cho trẻ RLPTK nói về tầm quan trọng của chẩn đoán đánh giá, nhằm phát hiện trẻ có nguy cơ RLPTK từ khi trẻ lên 2 tuổi.
Bài báo chú trọng đến các hướng tiếp cận CTS, đặc biệt chú trọng đến lứa tuổi trong giai đoạn 3 năm đầu đời của trẻ [27]. Tác giả Zwaigenbaum và các cộng sự đã nghiên cứu hiệu quả của việc CTS cho 6 trẻ dưới 3 tuổi dựa trên việc tổng hợp nhiều phương pháp đã được các tác giả khác nghiên cứu trước đó và một lần nữa khẳng định việc phát hiện sớm, CTS với phương pháp phù hợp là việc làm đúng đắn và mang lại hiệu quả cao cho trẻ RLPTK [99]. đã một lần nữa nhấn mạnh rằng RLTPK có những khiếm khuyết đặc thù về giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi rập khuôn, hạn hẹp. Bài nghiên cứu Can thiệp và phát triển giao tiếp sớm cho trẻ tự kỷ của tác giả đã cho thấy việc CTS giúp trẻ RLPTK phát triển giao tiếp, đồng thời bài báo cũng đưa ra các hướng xác định phương pháp can thiệp phù hợp trên trẻ RLPTK [58].
đã xuất bản cuốn Can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ nhằm đặt lên bàn cân và làm rõ một số giả định mà CM và chuyên gia phải đối mặt trong việc lựa chọn và cung cấp dịch vụ CTS cho trẻ có RLPTK [65]. Năm 2002, tác giả Moes và các cộng sự đã dựa theo hướng tiếp cận hành vi mà nghiên cứu bài báo Hỗ trợ hành vi theo ngữ cảnh trong CTS cho trẻ tự kỷ và gia đình của trẻ nhằm hỗ trợ can thiệp hành vi cho trẻ và gia đình trẻ [62]. Nhóm tác giả Bradshaw cũng đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của việc CTS cho trẻ RLTPK [22]. Tác giả Dawson cũng có bài nghiên cứu cho thấy sự dẻo dai và tính dễ tiếp thu của não bộ trong giai đoạn CTS của trẻ RLPTK vào năm 2008 [33].
Tác giả Webb và các cộng sự đã có bài báo về động lực thực hiện CTS cho trẻ sơ sinh có nguy cơ RLPTK cao [95]. Nghiên cứu của tác giả Tupou và các cộng sự nằm 2020 cũng đã đề cập đến việc đào tạo các GV với đầy đủ năng lực nhằm cung cấp nhân sự cho quá trình CTS cho trẻ trong môi trường mầm non [85]. Qúa trình nghiên cứu và CTS dành cho trẻ RLTPK đã được tác giả Dawson, G. tổng hợp với bài báo “Một phần tư thế kỷ về sự phát triển trong việc phát hiện và điều trị sớm chứng rối loạn phổ tự kỷ” cho thấy những năm qua, thế giới đã và đang quan tâm đến các trẻ có rối loạn và sự can thiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể [35].
Đây là một điều đáng mừng và cũng là động lực để các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục tiếp tục phát triển và đồng hành hơn nữa với gia đình trẻ cũng như các trẻ để ngày càng giúp các trẻ có rối loạn phát triển ngày một hơn, nâng cao khả năng hòa nhập tốt nhất có thể cho trẻ. Ở Việt Nam hiện nay, việc phát hiện và CTS trẻ RLPTK đã và đang được sự quan tâm rộng khắp của các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục cũng như nhiều lực lượng chức năng khác, một số nghiên cứu được kể đến như tác giả Vũ Thị Bích Hạnh năm 7 2007 đã xuất bản cuốn sách “Tự kỉ - phát hiện và CTS” [1] nói về các biểu hiện lâm sàng cụ thể để CM nhận thức đúng và phát hiện kịp thời nhằm đưa ra các chiến lược can thiệp phù hợp. Năm 2006, tác giả Trần Thị Thiệp (chủ biên) cùng với nhóm tác giả đã xuất bản cuốn “CTS cho trẻ khuyết tật” [11] ; năm 2012 tác giả Trần Thị Lệ Thu với cuốn “đại cương CTS cho trẻ khuyết tật trí tuệ” [12] đã đưa ra các chiến lược nhằm hỗ trợ quá trình CTS cho trẻ khuyết tật trí tuệ. Đặc biệt phải kể đến tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến với đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu biện pháp CTS và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011-2020” [16] đã định hướng biện pháp CTS và giáo dục cho trẻ RLPTK trong giai đoạn 10 năm ở nước ta, và nghiên cứu Phát triển mô hình CTS cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non [17] năm 2016 đã có tác động mạnh mẽ đến nhận thức về cộng đồng về trẻ khuyết tật cũng như mô hình giáo dục cho trẻ.
Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Thị Thảo đã có rất nhiều nghiên cứu về việc CTS giáo dục trẻ RLPTK, như Sử dụng PEP-R trong CTS trẻ có rối loạn phổ tự kỉ năm 2010 [5]; Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình CTS cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ và Một số biện pháp CTS cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ năm 2013 [7]; Áp dụng phương pháp Teacch trong CTS cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ năm 2014 [8]; Biện pháp sử dụng chương trình CTS Denver cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ năm 2019 [9] và năm 2019 với cuốn sách chuyên khảo CTS giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ [10], tác giả đã nhấn mạnh một lần nữa rằng trẻ RLPTK càng được phát hiện sớm, áp dụng phương pháp và mô hình can thiệp phù hợp sẽ giúp thúc đẩy quá trình hòa nhập và phát triển cách tốt nhất; đồng thời đưa ra các chiến lược, phương pháp, biện pháp nhằm giúp nâng cao chất lượng CTS cho trẻ. Tóm lại, các nghiên cứu trên đây về CTS giáo dục trẻ RLPTK tương đối đa dạng, song có thể thấy các điểm chung được khẳng định đó là CTS là con đường giúp trẻ RLPTK phát triển tốt nhất, việc CTS càng sớm thì khả năng giúp trẻ hồi phục càng cao. Trong quá trình CTS giáo dục, cần có sự kết hợp đa dạng của các phương pháp, chương trình, đồng có sự kết hợp với gia đình- nhà trường để đạt hiệu quả tối ưu hơn. Nghiên cứu về sử dụng ESDM trong giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ Nói về các chương trình can thiệp lâm sàng chuyên sâu 1:1, tác giả Eapen và các cộng sự đánh giá khá cao về mô hình CTS ESDM, đây là một chương trình có thể tác động tích cực đến kết quả của quá trình can thiệp và trẻ học được nhiều kĩ năng cần thiết hơn [37].
Song bài báo cũng nêu ra nhận định rằng các chương trình chuyên sâu 8 can thiệp lâm sàng 1:1 thường không có sẵn nguồn lực và không thể cung cấp trong cộng đồng nên có khá nhiều trẻ mầm non có RLPTK bị bỏ lỡ trong giai đoạn vàng của trẻ. năm 2008 đã tiến hành trên một trường hợp trẻ sơ sinh 9 tháng tuổi có những biểu hiện của trẻ RLPTK, cách tiếp cận can thiệp của nhóm nghiên cứu đảm bảo chương trình giáo dục dành cho phụ huynh và can thiệp trên trẻ kéo dài 12 tuần với 1,5 giờ trên một tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy các bậc CM đã có những chiến lược đúng đắn trong quá trình hình thành các kĩ năng giao tiếp, hành vi xã hội phù hợp và các chỉ số hành vi của trẻ đã cải thiện rõ nét [88]. Tác giả Dawson và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về một mô hình can thiệp dành cho trẻ từ khi chập chững biết đi vào năm 2010, với 48 trẻ từ 18 đến 30 tháng tuổi tham gia thử nghiệm được chia thành hai nhóm (1) can thiệp theo ESDM và (2) can thiệp trong cộng đồng.
Kết qảu cho thấy các trẻ được thực nghiệm can thiệp ESDM đã có những tiến bộ rõ nét trong việc quản lý hành vi, khả năng nhận thức. Sau hai năm tiến hành can thiệp, các trẻ thuộc nhóm (1) đã cải thiện được 17,6 điểm tiêu chuẩn (1 SD: 15 điểm) so với 7,0 điểm của nhốm (2). Nghiên cứu của nhóm tác giả đã phần nào cho thấy hiệu quả của việc phát hiện, CTS đối với trẻ và hơn hết là tính ưu việt của mô hình CTS ESDM này [34].