Chương 1: Những lý luận cơ bản về công tác xã hội hoá y tế; Chương 2: Thực trạng công tác xã hội hoá y tế tại Bệnh viện Tiên Lãng, Hải phòng từ năm 2013- 2017; Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế tại Bệnh viện Tiên Lãng, Hải Phòng. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA Y TẾ 1. Khái quát chung về công tác xã hội hóa y tế 1. Khái niệm về công tác xã hội hóa y tế Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào hoạt động cung cấp dịch vụ công, nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về dịch vụ của nhân dân.
Như vậy, XHH y tế được hiểu như sau: “Xã hội hóa dịch vụ y tế là tổ chức vận động sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể trong xã hội, cũng như các nhà đầu tư vào việc cung cấp dịch vụ y tế, để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ này, góp phần phục vụ mức hưởng thụ dịch vụ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân” [26]. Nội dung của công tác xã hội hóa y tế Xã hội hoá y tế gồm 5 nội dung cơ bản sau [26]: - Củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế: Nâng cao chất lượng KCB, thực hiện chế độ thu viện phí phù hợp. Thực hiện tốt quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn đối với khu vực ngoài công lập. Từng bước tiến hành BHYT toàn dân.
- Đa dạng hoá các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ: trong đó y tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các hoạt động chăm sóc sức khoẻ dưới sự quản lý của nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ y tế ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép cho ngân sách Nhà nước. - Tổ chức tốt sự tham gia tích cực chủ động của người dân trên cả 2 mặt hoạt động và đóng góp: Vận động nhân dân tự giác tham gia các hoạt động CSSK các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch, xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.Tăng cường sử dụng y học cổ truyền dân tộc, nuôi, trồng các loại cây con làm thuốc. Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho các dịch vụ CSSK thông qua chế độ viện phí.
5 - Tổ chức phối hợp liên ngành vì mục tiêu sức khoẻ cho mọi người: Làm rõ vai trò, nhiệm vụ và tổ chức tốt việc phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong việc CSSK người dân. - Tổ chức tốt công việc KCB cho người nghèo: Chính phủ tải trợ 1 phần, đồng thời khuyến khích hội chữ thập đỏ, các hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các quỹ trợ giúp cho người nghèo được KCB, mua BHYT cho các gia đình có công với đất nước và cho người nghèo. Vai trò của công tác xã hội hóa y tế Xã hội hóa y tế đáp ứng được nhu cầu của người dân, giảm tử vong, giúp trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam dần tiến bộ ngang với các nước trong khu vực, hạn chế được việc đi chữa bệnh ở nước ngoài, giảm sức ép cho ngân sách, vai trò của xã hội hóa y tế được thể hiện như sau: - Huy động nguồn lực trong nhân dân: Hiện nay ngân sách Nhà nước chi tiêu cho y tế dù liên tục tăng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu cho ngành y, Xã hội hoá là một kênh quan trọng trong việc huy động nguồn lực trong dân phục vụ cho sự nghiệp y tế việc sử dụng nguồn dịch vụ liên doanh liên kết đã bù đắp phần thiếu hụt về nguòi lực để duy trì hoạt động cũng như sự phát triển của ngành y. - Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân: Xã hội hóa y tế gồm nhiều mặt, nhiều hình thức, trong đó BHYT là loại hình chủ chốt.
Trong tình hình ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, xã hội hóa y tế có vai trò quan trọng, do vậy phải có cái nhìn khách quan, khoa học, khắc phục những lệch lạc với chủ trương đúng đắn của Đảng. - Một điều rất quan trọng cần nói đến, đó là xã hội hóa tại các bệnh viện công. Trong khi ngân sách hạn hẹp thì nguồn vốn vay ngân hàng, quỹ kích cầu, liên doanh liên kết để nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất và dịch vụ y tế ở các bệnh viện đã giúp cho bệnh viện ở Việt Nam thực hiện được những dịch vụ y tế hiện đại, ngang tầm khu vực. 6 - Trong xã hội hiện nay nhu cầu XHH y tế đáp ứng cho hai nhóm người với hai hình thức khác nhau, nhóm thu nhập cao sự phát triển của y tế sẽ giúp cho nhóm này có nhiều lựa chon cho khâu dịch vụ và được phục vụ với chất lượng cao giúp họ dễ dàng vượt qua những ngày tháng khó khăn vì bệnh tật.
- Nguồn lực có được từ công tác XHH sẽ tác động tích cực và trực tiếp tới vấn đề chất lượng chuyên môn về KCB khi bác sỹ vừa có nhiều thiết bị máy móc hiện đại hỗ trợ cho công tác chẩn đoán và điều trị vừa có được thu nhập xứng đáng hơn. Đối với nhóm người nghèo hay các đối tượng neo đơn, XHH y tế là cơ chế mạng lại cho họ nhiều lợi ích như thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) miễn cho người nghèo, trẻ em, các đối tượng người có công. - Hoàn thiện cơ chế thị trường trong lĩnh vực y tế: Sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dần định hình trong các ngành, các lĩnh vực và phát huy vai trò của nó. Đối với lĩnh vực xã hội đặc thù như y tế vẫn còn chậm đổi mới và việc xây dựng cơ chế hoạt động để phù hợp với nền kinh tế thị trường, vừa đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu an sinh, công bằng và tiến bộ xã hội.
XHH y tế là cơ chế có áp dụng nguyên tắc kinh tế thị trường trong y tế, qua thực tế ngành y tế rút ra được nhiều bài học có sự điều chỉnh cần thiết để tận dụng ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của cơ chế này trong một lĩnh vực đặc thù như y tế. XHH y tế còn là cách thức mà chính phủ thực hiện cac định hướng phát triển y tế tư nhân hay các cam kết WTO. - Cân bằng lại giữa khu vực công và tư, củng cố, hoàn thiện khu vực y tế công và thúc đẩy sự phát triển của y tế tư nhân: Cả thị trường và nhà nước đều có vai trò nhất định trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên trong một thời gian dài, nhà nước đã thực hiện bao cấp trong y tế mà vắng bóng thị trường, điều đó đã để lại nhiều hậu quả, đó là tình trạng trì trệ bệnh viện công, mọi người dân được KCB và cấp thuốc nhưng ở mức dịch vụ thấp chính là sự thiếu hụt nguồn lực nghiêm trọng phục vụ cho sự nghiệp y tế.
7 XHH y tế là một cơ chế cho phép ngành y cân bằng lại giữa nhà nước và thị trường. Khi khu vực tư nhân được phép tham gia vào một số lĩnh vực phù hợp thì y tế công có điều kiện tập trung hơn vào những mảng chính của mình như đào tạo, y tế dự phòng hay y tế kĩ thuật cao.XHH y tế đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư nhân cũng như y tế công thông qua các cơ chế tự chủ tài chính , cho phép bệnh viện thu phí, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu hay các hoạt động liên doanh liên kết. Những hoạt động này không những mang lại nguồn lực tài chính và vật chất (máy móc thiết bị y tế) khổng lồ cho bệnh viện mà còn tạo tiền đề cho sự cải tiến cơ cấu tổ chức, hạch toán để các bệnh viện hoạt động có hiệu quả hơn. - XHH y tế để đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong lĩnh vực y tế: Khi nguồn lực của xã hội được huy động cho các hoạt động KCB, phần ngân sách nhà nước sẽ dành để đầu tư cho lĩnh vực ưu tiên như dự phòng, y tế cơ sở.Sự phân bổ ngân sách theo kênh này luôn được cho là đảm bảo tính công bằng vừa đảm bảo tính hiệu quả.
Thay vì trợ cấp cho các bệnh viện công, nguồn lực này sẽ dành để hỗ trợ các chính sách thông qua hoạt động mua thẻ BHYT cho người nghèo, trẻ em và các đối tượng khác. Đây chính là hoạt động thích hợp nhất cho việc đảm bảo tính công bằng, hiệu quả nhất trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Quy định của nhà nước về công tác xã hội hóa y tế. Ngay từ năm 1997 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương cải cách hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo hướng xã hội hóa thông qua ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/ 8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
Đến năm 2005, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, trước tình hình kinh tế phát triển như vũ bão mà ngân sách đầu tư cho y tế còn thiếu hụt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 8 số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Tiếp tục đến năm 2008 là Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường và Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Nghị định số 59/2014/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 69/2008/NĐ-CP). Hai nghị định này đã xác định tương đối rõ nhiều mức ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư từ tư nhân.
Ngày 15/12/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 93/NQ-CP về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế.