MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Sự biến đổi của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt sau năm 1986, mở cửa nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có những bước biến đổi rõ nét. Những khu kinh tế, khu đô thị như vươn mình phát triển. Thủ đô Hà Nội là nơi đi đầu trong cả nước về quá trình đô thị hóa.
Kéo theo đó, những vùng ven đô ngoại thành cũng ảnh hưởng rất mạnh. Đặc biệt là vào năm 2008, với Nghị quyết của Quốc hội nước ta đã quyết định sát nhập tỉnh Hà Tây (cũ) vào Thành phố Hà Nội (NQ số 15/2008/QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008) thì diện tích của thủ đô Hà Nội đã có sự thay đổi mạnh. Cùng với nó là những chính sách về mở rộng và phát triển kinh tế khu vực ven đô ngoại thành khiến cho các vùng kinh tế ở khu vực ngoại thành cũng phát triển mạnh mẽ. Trong hàng loạt những biến đổi ở khu vực ven đô thì đáng quan tâm là sự biến đổi và phát triển của khu vực nông thôn.
Đó là những biến đổi về khía cạnh kinh tế - xã hội, người dân ngày càng năng động hơn, tích cực hơn trong việc tham gia vào quá trình biến đổi xã hội nói chung và góp phần vào sự phát triển đô thị hóa nói riêng. Đó vừa là động lực vừa là mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển ở khu vực nông thôn ven đô Hà Nội. Sóc Sơn là một huyện ngoại thành Hà Nội, cũng là vùng kinh tế chiến lược của thủ đô, không nằm ngoài quy luật đó. Kinh tế được đầu tư phát triển, nhiều dự án về xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế được triển khai.
Từ đó quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, kéo theo đó là hàng loạt sự biến đổi trong đời sống xã hội của người dân như biến đổi về kinh tế, văn hóa, lối sống, cơ cấu nhân khẩu,. và những hệ lụy của nó là những xung đột, tệ nạn xã hội xung quanh vấn đề biến đổi đó. Chúng tôi nhận thấy một vấn đề khá lý thú và cần được quan tâm sáng 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tỏ: công cuộc đổi mới của đất nước, đặc biệt là quá trình đô thị hóa đã và đang làm cho xã hội nông thôn – đặc biệt là nông thôn các vùng ven đô biến đổi nhanh chóng cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Biến đổi xã hội trong quá trình đô thị hóa vùng ven đô” (Khảo sát tại xã Mai Đình - Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội) làm đề tài luận văn thạc sĩ.
Tác giả mong muốn qua nghiên cứu của mình làm rõ hơn những biến đổi xã hội vùng ven đô, qua đó có thể chỉ ra được yếu tố nào tác động mạnh đến sự biến đổi xã hội tại vùng ven đô, liệu những biến đổi đó có phải vừa là nhân tố, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển ở khu vực nông thôn ven đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Đề tài nghiên cứu sẽ đi vào phân tích một số khía cạnh của biến đổi xã hội và gợi mở khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế những khía cạnh tiêu cực của biến đổi xã hội do quá trình đô thị hóa tác động ở vùng ven đô, đặc biệt là tại xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn – ngoại thành Hà Nội. Tình hình nghiên cứu về vấn đề Biến đổi xã hội là một trong những thuộc tính vốn có của mọi xã hội và điều này làm cho chúng ta nhận thấy sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ nữa mà dường như nó là chuyện đương nhiên xảy ra. Như chúng ta thấy, mọi chiều cạnh của cuộc sống liên tục biến đổi, từ cấu trúc xã hội đến các giá trị văn hóa, kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu về biến đổi xã hội luôn là một trong những chủ đề quan trọng không chỉ trong khoa học xã hội mà còn trong cuộc sống thực tế của mọi người. Vấn đề biến đổi xã hội luôn được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là các nhà khoa học xã hội. Có rất nhiều tác giả ở trong nước và nước ngoài đã và đang nghiên cứu về vấn đề biến đổi xã hội. Những nghiên cứu về biến đổi sớm nhất phải kể đến là của tác giả David Poppenoe.
Trong tác phẩm “Xã hội học” của tác giả đã được xuất bản nhiều lần từ những năm 1980 đã nêu ra vấn đề biến đổi xã 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội là một trong năm phần của cuốn sách. Trong phần nghiên cứu về biến đổi xã hội, tác giả đặt tên là: Các môi trường xã hội và biến đổi xã hội (Poppenoe, 1986) [22]. Trong tác phẩm “Xã hội học” của tác giả Anthony Gidden, xuất bản năm 2009 đã đưa ra quan điểm về biến đổi xã hội trong chủ để: Toàn cầu hóa và thế giới đang chuyển đổi (Giddens, 2009) [22]. Khi đề cập đến biến đổi xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau.
Macionis – nhà xã hội học người Mỹ thì cho rằng biến đổi xã hội là đề cập đến sự chuyển đổi của văn hóa và các thiết chế xã hội qua thời gian. Tác giả John Macionis cho rằng biến đổi xã hội có những đặc điểm như biến đổi xã hội diễn ra liên tục. Nói cách khác, các khía cạnh khác nhau của thiết chế xã hội và cấu trúc xã hội không ngừng thay đổi theo thời gian; biến đổi xã hội có thể được đặt kế hoạch trước, cũng có thể không có dự tính trước như những chương trình phát triển kinh tế xã hội được đặt ra, và được thực thi tạo nên những biến đổi của các khía cạnh cấu trúc xã hội và thiết chế xã hội có thể được dự tính trước. Tuy nhiên, những biến đổi không dự tính được cũng xuất hiện vô vàn trong cuộc sống của chúng ta; biến đổi xã hội thường hay gâyra sự tranh cãi.
Những ý kiến trái ngược nhau cũng thường xuất hiện quanh những vấn đề được đưa ra. Từ sự thay đổi cấu trúc xã hội đến thay đổi lối sống luôn có những ý kiến trái ngược nhau…. Còn theo nhà xã hội học Jarry thì cho rằng biến đổi xã hội là sự thay đổi của tình trạng hiện thời so với tình trạng trước đó của những khía cạnh cấu trúc xã hội hay thiết chế xã hội được xem xét (Jarry, 1991,tr. Tác giả Brinkerhoff và cộng sự cũng cho rằng: Biến đổi xã hội là bất kỳ sự chuyển đổi, hay thay đổi đáng kể nào đó của các cấu trúc xã hội hay thiết chế xã hội.
Có thể nói rằng, khi nói đến biến đổi xã hội, người nghiên cứu cần làm rõ hai vấn đề sau: khía cạnh xã hội cụ thể được xem xét và các mốc thời gian đặt ra để xem xét.Từ đó, người nghiên cứu tiến hành so sánh và xem xét tình trạng của khía cạnh xã hội được 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem xét đó thay đổi như thế nào qua các mốc thời gian [22]. Đó là những nghiên cứu về biến đổi xã hội ở cấp độ vĩ mô của các tác giả nổi tiếng ở nước ngoài. Còn ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu xã hội quan tâm đến vấn đề biến đổi xã hội. Ở cấp độ tổng quát, đề cập đến vấn đề này sớm nhất là tác phẩm “Xã hội học” do hai tác giả Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng đồng chủ biên, nhà Xuất bản Đại học Quốc gia đã xuất bản nhiều lần chỉ ra: Mọi xã hội, cũng giống như tự nhiên, không ngừng biến đổi.
Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Do đó bất cứ xã hội nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn luôn biến đổi. Và sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này làm cho ta nhận thấy sự biến đổi đó không còn là mới mẻ, nó đã dường như là chuyện thường ngày [6, 275 – 280]. Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả cũng đề cập đến vấn đề biến đổi xã hội từ góc độ vi mô và vĩ mô.
Ở cấp độ vĩ mô, công trình nghiên cứu “Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thế Cường (2010) đã bàn về vấn đề Biến đổi xã hội ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa. Tác giả tập trung phân tích biến đổi xã hội xoay quanh những vấn đề như động lực dân số, văn hóa, kết cấu xã hội, phúc lợi xã hội. Tác giả cho rằng đây là những “trụ cột” chính của quá trình hiện đại hóa xã hội [4, 188-190]. Trong lĩnh vực dân số, tác giả cho rằng Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên dân số vàng và đây là cơ hội lịch sử có một không hai cho phát triển nhanh.
Tuy nhiên cần nhận thức rõ và làm chủ được các động lực của động thái dân số. Trong lĩnh vực văn hóa, tác giả nhấn mạnh thái độ văn hóa đối với hiện đại hóa và cho rằng luật pháp là bộ phận quan trọng nhất của văn hóa. Tiêu điểm của quan niệm này cho rằng tính hiện đại của văn hóa và thượng tôn của luật pháp là hai mặt không thể tách rời. Tác giả cũng nêu lên 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một bức tranh tóm lược về kết cấu xã hội: sự bất bình đẳng tăng dần giữa các nhóm phân chia theo đô thị - nông thôn, tộc người, khu vực, nghề nghiệp trong việc sở hữu và kiểm soát các tài nguyên kinh tế, tri thức và quyền lực.
Trụ cột cuối cùng của bất kỳ một xã hội hiện đại nào là hệ thống phúc lợi xã hội. Tác giả cho rằng hệ thống này hoạt động và duy trì khá tốt trong nhiều năm vừa qua nên đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và ổn định chính trị - xã hội, phát triển con người. Tác giả cho rằng người ta mong đợi hơn nữa trong việc tạo nên một hệ thống phúc lợi toàn dân trong thời gian tới [4,188-190].