Chương 1 – TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vềnghiên cứu biến đổi sử dụng đất Thực tế, sử dụng đất thƣờng đƣợc hiểu đơn giản là các hoạt động làm thay đổi bề mặt trái đất của con ngƣời. Trong khi đó, khái niệm của quá trình chuyển đổi sử dụng đất đề cập đến bất kỳ sự thay đổi trong hệ thống sử dụng đất từ một trạng thái này sang một trạng thái khác[20].Theo các tác giả Eric F. Lambin, Patrick Meyfroidt[20], sử dụng đất hiện nay diễn ra theo hai xu hƣớng: thứ nhất là các quá trình thay đổi dần dần ở quy mô rộng lớn vàthứ hai là sự chuyển đổi đột ngột để ứng phó với các sự kiện quan trọng ở cấp cộng đồng địa phƣơng hoặc cá nhân.
Quá trình biến đổi sử dụng đất có liên quan tới sự thay đổi trong sự cung cấp hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà xã hội con ngƣời phụ thuộc. Sự đa dạng lớn trong bối cảnh địa lý và lịch sử có liên quan tới biến đổi sử dụng đất và rất nhiều sự phức tạp trong cả hai hệ thống sinh thái và xã hội. Theo các tác giả Eric F. Lambin, Patrick Meyfroidt [20], hai động lực cơ bản ảnh hƣởng tới quyết định sử dụng đất nói chung là: (i) động lực sinh thái – xã hội; và (ii) các động lực kinh tế - xã hội.
Trong đó, động lực sinh thái – xã hội là động lực nội sinh (gồm: sự phát triển có giới hạn của nguồn tài nguyên thiên nhiên và chu kỳ thích ứng; sự thiếu hụt đất đai và thâm canh nông nghiệp; điều chỉnh sử dụng đất), mang tính địa phƣơng, xuất hiện khi dòng hàng hóa và dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các hệ sinh thái tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, khiến chúng buộc phải làm chậm hoặc thậm chí đảo ngƣợc sự biến đổi sử dụng đất. Động lực kinh tế - xã hội là các động lực ngoại sinh (gồm: sự hiện đại hóa kinh tế, thuê đất và tiếp cận thị trƣờng, chế độ sở hữu đất đai, thƣơng mại toàn cầu, sự phổ biến của các ý tƣởng bảo vệ môi trƣờng toàn cầu), bắt nguồn từ cấp độ tổ chức cao hơn, từ khu vực lân cận, hoặc từ các cuộc cải cách địa phƣơng, dẫn đến sự chuyển dịch từ mở rộng sử dụng đất sang phục hồi hệ sinh thái tự nhiên ở quy mô quốc gia. Liên quan tới biến đổi sử dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử dụng đất”, “biến đổi sử dụng đất”, “biến đổi lớp phủ và sử dụng đất” hoặc “biến đổi lớp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phủ đất” trong tiêu đề hoặc từ khóa (có sự giới hạn đối với một khái niệm rộng lớn hơn của các lĩnh vực có sự tham gia của phƣơng pháp tiếp cận quản lý nhân chủng học/môi trƣờng kết hợp với các chủ đề nhƣ: cải cách đất đai, quyền sử dụng đất, quản lý đất đai và quyền sở hữu, tái định cƣ, và quan điểm cộng đồng về đất đai), các tác giả B.Carrđã tổng kết lại 4 xu hƣớng nghiên cứu chính[22]: - Nguyên nhân của sự biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc cho là do kết hợp lại các động lực đƣợc xác định một cách rộng rãi. -Việc nghiên cứu về nguyên nhân của sự thay đổi hƣớng tới tiếp cận các động lực biến đổi mang tính toàn cầu hoặc khu vực.
- Biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc coi nhƣ là kết quả của các quá trình khác (chính trị, kinh tế, môi trƣờng), đóng vai trò nhƣ một điều kiện cho những quá trình ở quy mô địa phƣơng và toàn cầu, thay vì là một quá trình đƣợc thành lập bởi mối quan hệ quyền lực địa phƣơng, khu vực, và quốc gia. - Các tài liệu có xu hƣớng hƣớng tới nghiên cứu các hộ gia đình (sử dụng phƣơng pháp tiếp cận hệ thống – gợi nhắc phƣơng pháp tiếp cận văn hóa sinh thái tới tƣơng tác con ngƣời - môi trƣờng) và kết quả mô hình hóa. Trong đó, đáng lƣu ý là các tác giả đã nhận thấy các vấn đề sau: - Xu hƣớng trong lý thuyết biến đổi sử dụng đất chỉ dừng lại ở xác định động lực và mô hình hóa kết quả dựa trên những gì tìm đƣợc, mà ít khi đi sâu vào nguyên nhân tại sao lại là những động lực này làm biến đổi sử dụng đất và cách chúng xây dựng mang tính xã hội nhƣ thế nào. - Tuy lý thuyết biến đổi sử dụng đất theo hƣớng kết quả mô hình hóa phần nào đáp ứng nhu cầu thực tế cho việc ra chính sách với các kịch bản biến đổi nhƣng vẫn có sự hạn chế bởi các mô hình này không thể nắm bắt đƣợc sự phức tạp của các động lực dẫn đến những thay đổi về đối tƣợng quan sát, và nhƣ vậy, việc thực hiện những mô hình phức tạp nhất bị giới hạn.
Thậm chí, việc lập mô hình hóa dữ liệu ngay cả trong trƣờng hợp chỉ có một động lực điều khiển quá trình biến đổi sử dụng đất cũng không hiệu quả khi có nhiều thay đổi đƣợc quan sát theo kinh nghiệm, vì chúng bắt đầu ở quy mô sai của quá trình xã hội. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan về nghiên cứu sinh kế bền vững 1. Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững Liên quan tới lý thuyết về biến đổi sử dụng đất, sinh kế thƣờng đƣợc hiểu là “khả năng, tài sản (sự dự trữ, nguồn tài nguyên, quyền đòi hỏi và tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho phƣơng tiện sinh hoạt” [11, 12, 14, 18, 27].
Theo Ellis [18] ghi chú, những định nghĩa sinh kế này đã chuyển từ thu nhập đơn thuần tới một xem xét toàn diện hơn về cách thức kiếm sống của con ngƣời. Trên cơ sở đó, khái niệm sinh kế bền vững cũng đƣợc đƣợc hình thành (từ ý tƣởng đƣợc đề xuất bởi Ủy ban Brundtland về Môi trƣờng và Phát triển tới sự đề cập cụ thể trong nội dung Agenda 21 tại Hội nghị về Môi trƣờng và Phát triển của Liên hợp quốc 1992 hay định nghĩa tổng hợp của Robert Chambers và Gordon Conway trong bài “Sustainable Rural Livelihoods: Practical concepts for the 21 st Century”)và hoàn thiện (với công trình nghiên cứu sinh kế bền vững của Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute for Development Studies - IDS) tại Đại học Sussex, Brighton, UK, và kết quả nghiên cứu về áp dụng khái niệm và phƣơng pháp tiếp cận sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế của Anh (the British Department for International Development - DFID)với hai đặc trƣng cần thiết, cần đƣợc đảm bảo đồng thời: - Khả năng có thể đƣơng đầu với và phục hồi sau những áp lực và cú sốc và duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai, - Không làm hủy hoại nguồn tài nguyên tự nhiên. Đặc điểm phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững của DFID Khái niệmvề sinh kế và sinh kế bền vững trên đã dẫn đến một số phƣơng pháp tiếp cận sinh kế tập trung chặt chẽ vào truy cập các loại tài sản của ngƣời dân. Phụ thuộc vào các tổ chức sử dụng, khái niệm này đƣợc dùng chủ yếu nhƣ khung (hoặc công cụ) phân tích trong lập kế hoạch chƣơng trình và đánh giá hoặc nhƣ một chƣơng trình.
Tuy nhiên, giữa các phƣơng pháp có 3 đặc trƣng cơ bản chung: (i) trọng tâm là sinh kế của ngƣời nghèo; (ii)thay vì lấy đầu vào là một ngành cụ thể nhƣ nông nghiệp, nƣớc hoặc y tế nhƣ các phƣơng pháp thông thƣờng, cách tiếp cận này bắt đầu với sự phân tích các hệ thống sinh kế hiện tại của ngƣời dân để xác định 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự can thiệp thích hợp; (iii) phƣơng pháp sinh kế bền vững chú trọng tới ngƣời tham gia trong xác định và thực hiện các hoạt động phù hợp [21]. Trong các phƣơng pháp tiếp cận sinh kế bền vững, phƣơng pháp đƣợc phát triển tại DFID từ năm 1998có trọng tâm là khung sinh kế bền vững - một cấu trúc phân tích để tạo điều kiện cho một sự hiểu biết rộng lớn và mang tính hệ thống của các yếu tố khác nhau có tác dụng hạn chế hoặc tăng cƣờng cơ hội sinh kế và để chỉ ra cách chúng liên quan với nhau [21]. Cũng theo Lasse Krantz [21], phƣơng pháp của DFID giúp tăng cƣờng hiệu quả của các cơ quan, tổ chức thực hiện trong giảm nghèo theo hai cách: - Bằng cách lồng ghép một loạt các nguyên tắc chính, trong đó xác định các hoạt động phát triển tập trung vào đói nghèo nên lấy trọng tâm là con ngƣời, có khả năng đáp ứng và sự tham gia, đa cấp độ, thực hiện quan hệ đối tác, bền vững và linh động. - Bằng cách áp dụng một quan điểm toàn diện trong chƣơng trình các hoạt động hỗ trợ để đảm bảo chúng tƣơng ứng với các vấn đề hoặc lĩnh vực liên quan trực tiếp để cải thiện sinh kế ngƣời nghèo.
Với khung sinh kế bền vững, phƣơng pháp này đƣợc DFID sử dụng để nhận biết, thiết kế và đánh giá những sáng kiến mới (dự án hoặc chƣơng trình), để đánh giá lại các hoạt động đã có, nhằm thông báo ý kiến và thảo luận chiến lƣợc, và dùng trong nghiên cứu. Phƣơng pháp tiếp cận sinh kế bền vững của DFID không phải là một khung chƣơng trình với các bƣớc khác nhau cần đƣợc thực hiện khi lập kế hoạch cho những chƣơng trình sinh kế bền vững rời rạc, mà nó thể hiện cách suy nghĩ mới về đói nghèo, tập trung vào sinh kế của ngƣời nghèo để nhận biết các vấn đề hoặc khu vực cần đƣợc đề cập tới trong một tình huống cụ thể để giảm đói nghèo[21]. * Khung sinh kế bền vững của DFID Khung sinh kế bền vững đƣợc DFID xây dựng với các nhân tố: khung hoàn cảnh dễ bị tổn thƣơng, tài sản sinh kế, cấu trúc chuyển đổi và quá trình thực hiện, các chiến lƣợc sinh kế và kết quả.Trong đó, bối cảnh dễ bị tổn thương là môi trƣờng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khung sinh kế bền vững [17] bên ngoài mà trong đó con ngƣời tồn tại.
Sinh kế con ngƣời và các tài sản sẵn có của họ về cơ bản bị ảnh hƣởng bởi những xu hƣớng, cú sốc hoặc tính mùa vụ - những điều mà họ hạn chế đƣợc hoặc không thể kiểm soát đƣợc.