Nghiên cứu biến đổi sinh kế của phụ nữ tại xã Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích biến đổi sinh kế của phụ nữ tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi đất nông nghiệp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

228
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Giả thuyết nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.7. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu lý thuyết về sinh kế

1.2. Các nghiên cứu về sinh kế của phụ nữ

1.3. Các nghiên cứu về tài sản sinh kế của phụ nữ

1.4. Các nghiên cứu về chiến lược sinh kế của phụ nữ

1.5. Các nghiên cứu về kết quả sinh kế của phụ nữ

1.6. Các yếu tố tác động đến sinh kế của phụ nữ

1.7. Các nghiên cứu về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa

1.8. Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp

1.9. Vấn đề việc làm cho người dân

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lí luận của đề tài

2.2. Các khái niệm công cụ

2.3. Các lý thuyết vận dụng

2.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.5. Đặc điểm kinh tế và vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh

2.6. Đặc điểm kinh tế và vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.7.1. Phương pháp phân tích tài liệu

2.7.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.7.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3. CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI TÀI SẢN SINH KẾ VÀ CHIẾN LƯỢC SINH KẾ CỦA PHỤ NỮ Ở VÙNG CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

3.1. Biến đổi tài sản sinh kế

3.2. Biến đổi vốn tự nhiên

3.3. Biến đổi vốn vật chất

3.4. Biến đổi vốn tài chính

3.5. Biến đổi vốn con người

3.6. Biến đổi vốn xã hội

3.7. Biến đổi chiến lược sinh kế

3.7.1. Biến đổi chiến lược sinh kế thuần nông nghiệp

3.7.2. Biến đổi chiến lược sinh kế hỗn hợp

3.7.3. Biến đổi chiến lược sinh kế phi nông nghiệp

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ SINH KẾ CỦA PHỤ NỮ Ở VÙNG CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

4.1. Kết quả sinh kế của nhóm sản xuất nông nghiệp

4.1.1. Thu nhập trong sản xuất nông nghiệp

4.1.2. Mức độ ổn định trong sản xuất nông nghiệp

4.1.3. Tính dễ bị tổn thương trong sản xuất nông nghiệp

4.2. Kết quả sinh kế của nhóm sản xuất hỗn hợp

4.2.1. Thu nhập của nhóm sản xuất hỗn hợp

4.2.2. Mức độ ổn định của nhóm sản xuất hỗn hợp

4.2.3. Tính dễ bị tổn thương của nhóm sản xuất hỗn hợp

4.3. Kết quả sinh kế của nhóm sản xuất phi nông nghiệp

4.3.1. Thu nhập của nhóm sản xuất phi nông nghiệp

4.3.2. Mức độ ổn định của nhóm sản xuất phi nông nghiệp

4.3.3. Tính dễ bị tổn thương của nhóm sản xuất phi nông nghiệp

4.4. Đánh giá chung về kết quả sinh kế

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi sinh kế phụ nữ vùng chuyển đổi đất nông nghiệp

Biến đổi sinh kế của phụ nữ ở vùng chuyển đổi đất nông nghiệp là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Sự chuyển đổi này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế mà còn tác động đến vai trò và vị thế của phụ nữ trong xã hội. Việc nghiên cứu biến đổi sinh kế giúp hiểu rõ hơn về những thách thức mà phụ nữ phải đối mặt và tìm ra giải pháp phù hợp.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về sinh kế

Sinh kế được hiểu là khả năng và các nguồn lực mà một cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng để duy trì cuộc sống. Đặc biệt, trong bối cảnh nông thôn, sinh kế của phụ nữ thường gắn liền với đất đai và sản xuất nông nghiệp.

1.2. Tình hình hiện tại của phụ nữ nông thôn

Phụ nữ nông thôn hiện nay chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động nông nghiệp. Họ không chỉ tham gia sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính và gia đình. Tuy nhiên, sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang đe dọa sinh kế của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong biến đổi sinh kế phụ nữ

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã tạo ra nhiều thách thức cho phụ nữ. Họ phải đối mặt với việc mất đất, giảm thu nhập và thiếu cơ hội việc làm. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến gia đình và cộng đồng.

2.1. Mất đất và ảnh hưởng đến thu nhập

Mất đất nông nghiệp dẫn đến việc phụ nữ không còn nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp. Điều này làm gia tăng tình trạng nghèo đói và khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.

2.2. Thiếu cơ hội việc làm và đào tạo

Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các cơ hội việc làm mới. Việc thiếu kỹ năng và đào tạo nghề khiến họ khó có thể chuyển đổi sang các ngành nghề khác.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề sinh kế cho phụ nữ

Để cải thiện sinh kế cho phụ nữ trong bối cảnh chuyển đổi đất nông nghiệp, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các chính sách hỗ trợ và chương trình đào tạo nghề là rất cần thiết.

3.1. Đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng

Đào tạo nghề cho phụ nữ là một trong những giải pháp quan trọng. Việc trang bị kỹ năng mới giúp họ có thể tìm kiếm việc làm trong các lĩnh vực phi nông nghiệp.

3.2. Hỗ trợ tài chính và khởi nghiệp

Cung cấp hỗ trợ tài chính cho phụ nữ để họ có thể khởi nghiệp hoặc mở rộng sản xuất là rất cần thiết. Các chương trình vay vốn ưu đãi có thể giúp họ vượt qua khó khăn ban đầu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về biến đổi sinh kế của phụ nữ ở vùng chuyển đổi đất nông nghiệp đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu có thể giúp cải thiện đời sống cho phụ nữ nông thôn.

4.1. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ

Các chương trình hỗ trợ đã giúp nhiều phụ nữ cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống. Họ đã có thể tiếp cận các nguồn lực và cơ hội mới.

4.2. Tác động đến cộng đồng và gia đình

Khi phụ nữ có sinh kế ổn định, họ không chỉ cải thiện cuộc sống cá nhân mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển của gia đình và cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của sinh kế phụ nữ

Biến đổi sinh kế của phụ nữ ở vùng chuyển đổi đất nông nghiệp là một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết phải được giải quyết. Tương lai của họ phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ và sự tham gia của cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của phụ nữ nông thôn. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội phát triển bền vững.

5.2. Hướng đi cho tương lai

Cần có sự hợp tác giữa các tổ chức chính phủ và phi chính phủ để tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ phát triển sinh kế. Sự tham gia của phụ nữ trong các quyết định liên quan đến đất đai cũng rất quan trọng.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lí luận, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Biến đổi tài sản sinh kế và chiến lược sinh kế sinh kế của phụ nữ ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Chương 4.

Kết quả sinh kế của phụ nữ ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu lý thuyết về sinh kế Những ý tưởng về sinh kế đầu tiên được đưa ra vào thế kỉ 19, được phát triển trong thế kỉ 20, trong đó tiêu biểu là C.Ăngghen với tư tưởng về sinh kế cho nông dân và người nghèo đô thị, V.Lênin với quan niệm về đất đai như là phương tiện sinh kế của nông dân nghèo. Những quan niệm và tư tưởng này đã đặt nền tảng cho những nghiên cứu về sinh kế về sau này.

Trong báo cáo của WCED (1987) mang tên “Food 2000: Global Policies for Sustainable Agriculture” (Lương thực năm 2000: Chính sách toàn cầu cho nông nghiệp bền vững) lần đầu tiên đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến phát triển sinh kế. Theo đó, sinh kế được định nghĩa là sự dự trữ và luân chuyển tương xứng của lương thực và tiền bạc để đáp ứng các nhu cầu cơ bản. Các khía cạnh an ninh liên quan đến đảm bảo quyền sở hữu, hoặc tiếp nhận các nguồn lực và các hoạt động tạo thu nhập, bao gồm cả dự trữ và tài sản để bù đắp rủi ro, giảm bớt những cú sốc và đáp ứng được với các tình huống nảy sinh. Quan điểm của Chambers và Conway (1992) trong “Sustainable rural livelihoods: practical concepts for the 21st century IDS” (Sinh kế nông thôn bền vững: các khái niệm thực tế trong thế kỷ 21 IDS) cho thấy: Sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3 yếu tố cơ bản: khả năng, công bằng và bền vững.

Theo tác giả "Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người"; một sinh kế là bền vững "khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài TIEU LUAN MOI download 6: skknchat@gmail.com hạn" (Chambers và Conway, 1992, tr. Theo Chambers và Conway, sinh kế được áp dụng ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng. nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình. Đồng thời, các tác giả đánh giá tính bền vững của sinh kế trên hai phương diện: bền vững về môi trường và và bền vững về xã hội.

Như vậy, tính bền vững của sinh kế được phát triển dựa trên tam giác phát triển bền vững, bao gồm: kinh tế, xã hội và môi trường. Dựa trên khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” (Scoones, 1998, tr. Cùng quan điểm ấy Carney (1998), cho rằng sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cần thiết để sống. Bắt đầu từ điểm này, Scoones (1998) đề xuất năm yếu tố để xem xét trong việc xác định liệu cuộc sống có bền vững hay không, bao gồm số ngày làm việc; giảm nghèo, phúc lợi và năng lực và hai yếu tố cuối cùng để đánh giá tính bền vững, đó là khả năng thích nghi với sinh kế, khả năng phục hồi và tính bền vững của nguồn tài nguyên tự nhiên.

Theo Reardon và Taylor (1996), một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. Paul (1997) trong “The Livehood of Man (Studies in social discontinuity)” (Sinh kế cho người dân – Những nghiên cứu trong các giai đoạn xã hội) cho rằng sinh kế là phương tiện hay cách thức kiếm sống. Theo tác giả, để duy trì và đảm bảo sinh kế của mình, các cá nhân phải dựa vào hoàn cảnh thực tế và các nguồn lực vật chất đang tồn tại để đạt được sinh kế theo cách mà họ mong muốn. Ellis (1998) cho rằng sinh kế cho nông dân nghèo được coi là bền vững khi đảm bảo các nguồn vốn sinh kế, các hoạt 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động gia tăng nguồn vốn sinh kế và các cơ hội tiếp cận nguồn vốn sinh kế thông qua các thể chế và chính sách, đồng thời với các yếu tố đó là các quyết định sinh kế của các nhân và hộ gia đình.

Theo Dorward và Poole (2003), sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu và vượt qua những áp lực, sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai nhưng không ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên. Quan điểm này tương đồng với WCED (1987) khi cho rằng khía cạnh bền vững đề cập đến việc duy trì hay nâng cao năng suất tài nguyên trên cơ sở lâu dài. Một hộ gia đình có thể được tạo điều kiện để đảm bảo an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều cách khác nhau, thông qua quyền sở hữu đất đai, vật nuôi hoặc cây trồng; quyền chăn thả gia súc, đánh cá, săn bắn hay thu nhập; thông qua việc làm ổn định với thù lao thoả đáng hoặc thông qua các hoạt động đa dạng. Barrett, Reardon (2001) lại cho rằng sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng tăng cường nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển….

Sinh kế bền vững là mục tiêu của mọi hoạt động và chiến lược sinh kế. Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người (DFID, 2001). Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998). Ngoài ra, DFID cũng đề cập đến các vấn đề sau: (1) Chiến lược sinh kế: Là cách các hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống và đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống.

(2) Kết quả sinh kế: Là những thành quả mà hộ gia đình đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh kế. (3) Thể chế, chính sách: Các thể chế và chính sách quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và TIEU LUAN MOI download 8: skknchat@gmail.com việc thực hiện các chiến lược sinh kế trên các cấp độ cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau. Scoones (1998) là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững. Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối cảnh cụ thể sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào (5 loại nguồn lực khác nhau) sẽ tạo ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế và di dân) nhằm đạt được các kết quả sinh kế nhất định.

Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các qui trình thể chế và chính sách - được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn (Trần Thọ Đạt và cộng sự, 2012). Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) (Nguồn: Scoones, 1998) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu của Kollmair và Gamper (2002) trong “The Sustainable Livelihoods Approach” (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững) bàn về phương pháp sinh kế. Theo các tác giả, sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn, tài sản (kể cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động kiếm sống cần thiết. Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu của họ.

Ngoài ra hai ông quan tâm đến phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững - như một công cụ để người nghèo sử dụng trong việc ứng phó với nghèo đói. Kollmair và Gamper mô tả Khung sinh kế bền vững, các yếu tố giúp thực hiện sinh kế bền vững bao gồm: vốn tài chính, vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn xã hội. Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (2007) trong “Sổ tay đánh giá nghèo đói và thị trường có sự tham gia” đề cập về sinh kế dưới dạng lí luận, thông qua việc giải đáp một cách đầy đủ các khía cạnh: khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững, các nguyên tắc sinh kế bền vững, khung sinh kế bền vững và nội dung của nó, chiến lược sinh kế, mối quan hệ giữa sinh kế và thị trường, phương pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia. Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp hiểu biết toàn diện về các cơ hội và cản trợ người dân khi tiếp cận các dịch vụ và thị trường trong hệ thống sinh kế, đồng thời kiến nghị những chính sách thúc đẩy cơ hội cho người nghèo.

Nguyễn Văn Sửu (2010a) trong nghiên cứu “Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo” đã điể m la ̣i cá c quan điể m lý thuyế t của các tác giả đi trước và giới thiê ̣u những luâ ̣n điể m lý thuyế t quan tro ̣ng về khung sinh kế bề n vững. Cụ thể là Nguyễn Văn Sửu đã thảo luận sâu về khung sinh kế, trong đó đề cập đến các yếu tố hợp thành sinh kế, bao gồm: (1) các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) các TIEU LUAN MOI download10: skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ