CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT Ở XÃ NGA HOÀNG 1. Điều kiện tự nhiên ở xã Nga Hoàng huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ 1. Vị trí địa lý Xã Nga Hoàng nằm cách thị trấn Yên Lập 7 km về phía Tây Bắc. Phía Đông giáp xã Hưng Long huyện Yên Lập, phía Bắc giáp xã Xuân Thuỷ, phía tây giáp xã Trung Sơn, phía Nam giáp xã Thượng Long huyện Yên Lập.
Nga Hoàng có tổng diện tích tự nhiên là 694. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 124.1 ha, đất lâm nghiệp là 496.78 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 10.79 ha, đất ở nông thôn 11.4 ha, đất chuyên dùng 16. Diện tích độ che phủ rừng đạt 75%, chủ yếu là rừng tái sinh, rừng trồng. Diện tích rừng giao đến hộ quản lý là 149.87 ha, chưa giao 346.
Địa hình tự nhiên chủ yếu là rừng làm cho xã Nga Hoàng có hệ thực vật phong phú trong rừng có nhiều loại rau rừng được bà con khai thác phục vụ cho đời sống hàng ngày. Rừng ở đây đã từng là đối tượng khai thác từ nhiều đời nay của người Dao ở Nga Hoàng trong việc khai thác phục vụ làm nhà, và phục vụ bữa ăn hàng ngày. Rừng cung cấp các loại rau rừng, thịt thú rừng, các loại cây thảo mộc làm thuốc nam. Diện tích mặt nước dùng để nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với làm thuỷ lợi 10.79 ha do UBND xã và hộ gia đình quản lý.
Môi trường tự nhiên này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Dao nơi đây giữ được những giá trị văn hóa truyền thống. Có thể nói hầu hết các nhóm Dao ở nước ta môi trường sinh sống của họ chủ yếu là rừng núi, nơi nào có rừng là nơi đó có mặt người Dao, người Dao ở Nga Hoàng cũng mang đặc điểm đó. Trong quá trình sinh sống với môi trường, những phong tục tập quán được hình thành, lưu giữ và phát triển để tạo nên nét độc đáo trong văn hóa 9 Dao. Tuy nhiên, do yêu cầu mở rộng diện tích để phát triển kinh tế, do sự khai thác của con người nên diện tích rừng, thực vật và động vật suy giảm một cách đáng kể.
Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm biến đổi văn hóa nơi đây. Địa hình, đất đai Xã Nga Hoàng nằm ở dưới các chân núi, địa hình chủ yếu là đồi núi, xã có 3 dạng địa hình chủ yếu là núi và đồi thấp, một vài dải đồng bằng nhỏ và hẹp. Sự đa dạng về địa hình cũng tạo điều kiện nảy sinh sự đa dạng về sản xuất ở nơi đây. Đất đai chủ yếu là đất đỏ, do địa hình có độ dốc lớn thường bị xói mòn và bạc màu nên khó thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Sự thay đổi địa hình sinh sống từ đất dốc chuyển xuống nơi đồi núi thấp làm thay đổi về kiểu dáng nhà ở người Dao ở Nga Hoàng cho phù hợp với địa hình cư trú mới. Khí hậu Nga Hoàng là một xã trung du miền núi thuộc huyện Yên Lập- Phú Thọ nên có chung kiểu thời tiết của hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Hằng năm người dân nơi đây cũng phải chịu những diễn biến thất thường của thời tiết mang lại. Đặc điểm khí hậu chia làm 4 mùa rõ rệt: mùa xuân và mùa hạ khí hậu nóng ẩm mưa nhiều; mùa thu và mùa đông rét khô hanh.
Hệ động vật, thảm thực vật Với diện tích rừng chiếm đa số nên trong rừng hệ động thực vật phong phú, đa dạng, rừng có nhiều cây gỗ quý, nhiều loại cây thảo mộc để làm thuốc, động vật có nhiều nai, chồn, hoẵng ở đây do trước kia săn bắt nhiều nên giờ không còn nhiều loại động vật quý hiếm chỉ còn lại một số loài với số lượng ít. 10 Với các đặc điểm tự nhiên như trên người Dao có điều kiện duy trì các tập quán tự nhiên của mình từ xa xưa. Đây cũng là cơ sở để văn hoá truyền thống của người Dao ở Nga Hoàng có thể phát triển và được duy trì tới ngày nay. Điều kiện kinh tế -xã hội của xã Nga Hoàng 1.
Điều kiện kinh tế Trước kia khi đồng bào còn sống trên núi cao Sáu Khe, Đát Hóp, kinh tế kém phát triển họ cư trú theo hình thức du canh du cư. Hoạt động kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp, sống dựa vào trồng ngô, lúa và một số cây hoa màu khác, chưa biết áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, hình thức canh tác còn thô sơ nên năng suất và hiệu quả kinh tế thấp, cuộc sống khó khăn vất vả. Sau cuộc vận động hạ sơn của Đảng và Chính phủ, đồng bào người Dao đã xuống núi sống ở khu vực thấp dưới chân núi và họ chính thức định canh định cư tại đây trở thành bản người Dao. Người Dao hiện nay ở xã sống chủ yếu dựa vào thâm canh lúa nước, một phần thu nhập từ rừng.
Từ chỗ sản xuất tự cấp tự túc cho mình là chính người Dao hiện nay đã tiếp cận được với nền kinh tế sản xuất hàng hóa, mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm với các dân tộc Kinh và Mường trong vùng. Thu nhập bình quân lương thực của xã đạt 453,2 kg thóc/người/ năm. Thu nhập của từng gia đình người Dao cũng tăng lên rất nhiều so với trước đây. Hiện nay, gia đình người Dao có thu nhập bình quân là: 4,4 triệu đồng /người /năm (số liệu tính đến 31/12/2010).
Các gia đình trong xã hầu như nhà nào cũng có tivi và xe máy cùng một số trang thiết bị trong gia đình khác. Tuy nhiên tỷ lệ đói nghèo vẫn còn chiếm tỷ lệ cao chiếm 56%, hộ nghèo trong xã là 238 hộ /402 hộ. Điều kiện xã hội * Hệ thống giao thông: Hệ thống giao thông ngày càng được mở rộng và nâng cấp; đường cấp phối đang dần thay cho đường đất. Trên địa bàn xã có 11 đường huyện lộ có 1 tuyến dài 3,7 km từ tràn Cây Quân đi khu 1 tuy nhiên mặt đường đất tình trạng rất xấu.
Đường liên thôn có 6 tuyến dài 13,5 km mặt đường cấp phối sỏi sạn thuộc loại B. Đường nội thôn có 12 tuyến mặt đường đất lầy lội. Trục đường chính ra đồng có 3 tuyến với đường đất tổng chiều dài 8,5 km rất lầy lội mùa mưa. Việc cải tiến, nâng cấp giao thông tạo điều kiện cho quá trình giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế ở địa phương có vai trò quan trọng.
* Giáo dục: Tại xã Nga Hoàng hiện có 2 trường gồm trường mầm non, trường Tiểu học và Trung học cơ sở học chung một trường. Trường Mầm non có 4 phòng học đạt chuẩn, trường tiểu học và Trung học cơ sở có 8 phòng học, trong đó đạt chuẩn có 4 phòng. Hệ thống trường lớp đang góp phần nâng cao dân trí cho người dân trong xã Nga Hoàng. Tỷ lệ phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong xã ngày càng tăng cao.
* Mạng lưới điện quốc gia: Cả xã có 2 trạm biến áp, số hộ sử dụng điện 402/402 bằng 100% người dân trong xã đã có điện để thắp sáng không phải sử dụng đèn dầu như trước. Điện phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người dân trở nên thuận tiện. * Thủy lợi : Đập dâng, hồ chứa có 1 công trình, phai chắn nước nhỏ có 5 cái xây đá đã xuống cấp kém hiệu quả, trong đó có 6 hệ thống hư hỏng nặng cần được nâng cấp sửa chữa. Hiện tại hệ thống thủy lợi của xã vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cấp nước cho sản xuất nông nghiệp,nguồn nước vẫn dựa vào thiên nhiên là chính.
Công tác quản lý các công trình thuỷ lợi do hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã và công ty Trách nhiệm hữu hạn nhà nước MTV khai thác công trình thuỷ lợi chịu trách nhiệm, nguồn duy tu, bảo dưỡng thường xuyên được nhà nước hỗ trợ từ nguồn thuỷ lợi phí còn nhân dân đóng góp sức lao động. Hệ thống thủy lợi phục vụ bà con trong việc gieo trồng, thâm canh lúa nước phục vụ tưới tiêu. 12 * Mạng lưới y tế: Xã có một trạm y tế, gồm 1 nhà khám và điều trị một nhà chăm sóc sức khỏe sinh sản, có đủ công trình vệ sinh. Đã có lò tiêu hủy rác thải y tế.
Đội ngũ cán bộ nhân viên có 6 người gồm 1 bác sỹ, 3 y tá, 1 dược sỹ. Trạm y tế được công nhận đạt chuẩn giai đoạn 1. Trạm y tế phục vụ bà con trong việc tư vấn và chăm sóc sức khỏe. * Thiết chế văn hóa: Xã chia thành 6 khu hành chính.
Mỗi khu đều có thiết chế nhà văn hóa riêng để người dân họp bàn công việc của khu. Nhà văn hóa là nơi cán bộ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng tới người dân. Hiện nay toàn xã Nga Hoàng có các dòng họ Trịnh, Triệu, Dương, Phùng, trong đó họ Triệu có số dân đông nhất. Khi có chủ trương của Nhà nước và chính phủ vận động người dân tộc sống trên núi cao xuống dưới thấp làm ăn, sinh sống người Dao đã xuống chân núi và ở tại xã Nga Hoàng và họ bắt đầu định canh tại đây.
Hiện nay toàn xã chia thành 6 khu, có 402 hộ với 1360 khẩu. Người Dao ở Nga Hoàng cư trú xen kẽ với người Kinh và người Mường nhưng người Dao chiếm số lượng nhiều nhất họ sống thành từng khu riêng biệt với người Mường và người Kinh. Người Dao chiếm 60% số dân trong xã, người Kinh chiếm 3% còn lại là người Mường. Việc sinh sống đan xen các dân tộc với nhau tạo nên sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các dân tộc dẫn tới sự thay đổi văn hoá trong từng dân tộc trong đó có người Dao.
Dân số, lịch sử tộc người và đời sống văn hoá của người Dao ở Nga Hoàng 1. Dân số và phân bố cư trú Xã Nga Hoàng có diện tích tự nhiên 694.5 ha, có 403 hộ gia đình với 1360 nhân khẩu, xã được chia thành 6 khu hành chính từ khu I đến khu VI. 13 Trong xã có sự cộng cư của 3 dân tộc Kinh- Mường- Dao, dân tộc Dao có số dân khá đông dân. Sự cư trú đan xem với hai dân tộc Kinh và Mường giúp người Dao có cơ hội giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội với dân tộc khác nhưng họ vẫn giữ được nét văn hoá riêng biệt của mình.
Nguồn gốc và lịch sử tộc người Người Dao ở Việt Nam có 751.067 người (theo thống kê năm 2009) đứng hàng thứ 9 trong danh mục các dân tộc Việt Nam, đứng thứ 2 trong các nước có người Dao cư trú trên thế giới.