Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62 31 06 40) của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, với đề tài "Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Quốc Bình tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (bảo vệ năm 2014).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn cùng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nghề thủ công truyền thống tại Việt Nam – một trong bảy lĩnh vực thuộc di sản văn hóa phi vật thể – đang trải qua quá trình biến đổi sâu sắc. Tại Hà Nội, nơi tập trung số lượng làng nghề lớn nhất cả nước (hội tụ 47/52 nghề và 286 làng nghề truyền thống được công nhận), nghề sơn truyền thống đứng trước sự phân hóa rõ rệt: nhiều làng nghề bị mai một hoặc mất hẳn (như Bình Vọng ở Thường Tín, Đình Bảng ở Bắc Ninh), trong khi một số làng nghề vẫn duy trì hoạt động nhờ sự thích nghi.
Hai làng Bối Khê (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai) là những làng nghề có bề dày lịch sử và khẳng định được vị thế riêng về kỹ thuật sơn khảm và sơn thếp. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, hai làng nghề này hầu như chưa được nghiên cứu chuyên sâu, chủ yếu mới chỉ được điểm qua có tính chất liệt kê trong một số bài viết quảng bá du lịch hoặc tổng quan chung. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về bản chất, tác nhân, cơ chế và hệ quả của sự biến đổi nghề sơn tại hai địa bàn này là khoảng trống khoa học cần được bù đắp.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích tổng quát:
- Chứng minh sự biến đổi là quy luật tất yếu khách quan để nghề sơn truyền thống ở các làng nghề như Bối Khê và Vũ Lăng có thể duy trì và phát triển trong bối cảnh đương đại.
- Xác lập những căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm định hướng cho nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề phát triển trong tương lai.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa tư liệu liên quan đến nghề sơn truyền thống tại Việt Nam, khu vực Hà Nội và hai làng nghề Bối Khê, Vũ Lăng.
- Phục dựng diện mạo nghề sơn truyền thống ở hai làng qua các thời kỳ lịch sử (nguồn gốc, kỹ thuật, tổ chức nghề, tâm lý làm nghề).
- Xác định các giá trị tiêu biểu, so sánh đối chiếu với các làng nghề sơn khác ở châu thổ Bắc Bộ nhằm làm rõ đặc trưng riêng biệt.
- Phân tích các chiều kích biến đổi (nguyên liệu, quy trình, sản phẩm, nhân lực, thị trường, tổ chức sản xuất) dưới tác động của kinh tế thị trường và công nghiệp hóa.
- Xây dựng luận cứ khoa học định hướng phát triển bền vững nghề sơn truyền thống trên cơ sở kế thừa giá trị cổ truyền và tiếp thu kỹ thuật mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghề sơn truyền thống tại làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và làng Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội trong quá trình vận động, biến đổi để thích nghi và tồn tại.
- Phạm vi không gian: Hai làng Bối Khê (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai), TP. Hà Nội, đặt trong bối cảnh so sánh với hệ thống làng nghề sơn vùng châu thổ Bắc Bộ (như Hạ Thái, Cát Đằng, Sơn Đồng, Đình Bảng, Bình Vọng).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích nghề sơn truyền thống tại hai làng từ năm 1945 đến năm 2013, tập trung vào ba giai đoạn biến đổi: trước năm 1954, từ năm 1954 đến trước năm 1986, và từ năm 1986 đến năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài:
-
Nguồn sử liệu và tư liệu khảo cứu của học giả nước ngoài:
- Các bộ chính sử Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi chép về việc sử dụng sơn và thợ sơn qua các triều đại.
- Công trình nghiên cứu thực vật và kỹ thuật: Những cây sơn ở Đông Dương của Ch. Crevost (19), Sơn và dầu sơn Bắc Bộ - Trung Quốc - Nhật Bản của G.
-
Nhóm công trình giới thiệu lịch sử ngành nghề và thần tổ:
- Tạ Phong Châu (chủ biên) trong Truyện các ngành nghề (18); Vũ Ngọc Khánh với Lược truyện thần tổ các ngành nghề (59); Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo trong Nghề thủ công truyền thống và các vị tổ nghề (123).
-
Nhóm công trình khảo tả chất liệu, kỹ thuật nghề sơn và sơn mài:
- Phạm Đức Cường với Kỹ thuật sơn mài (31); Trần Thị Tuyết Hạnh với Nghề sơn với nghệ thuật trang trí ứng dụng ở Việt Nam (40); Trương Minh Hằng (chủ biên) trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam - Tập 6: Nghề chế tác đá, nghề sơn và một số nghề khác (43); Lê Huyên với Nghề sơn cổ truyền Việt Nam (52); Nguyễn Lan Hương với Làng nghề sơn quang Cát Đằng (54); Nguyễn Văn Minh với Sơn mài Bình Dương - chất liệu và nghệ thuật thể hiện (73); Đặng Thị Thu Hiền với Kỹ thuật, chất liệu của sơn mài Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XX (44); cùng tập văn phẩm tập thể Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam (115).
-
Nhóm công trình khảo tả các làng nghề sơn cụ thể tại Hà Nội:
- Trương Duy Bích và Trương Minh Hằng nghiên cứu về Bình Vọng và Hạ Thái (6); Trương Duy Bích và Nguyễn Thị Hương Liên nghiên cứu về Sơn Đồng (7); Nguyễn Xuân Nghị với Nghề sơn truyền thống làng Hạ Thái - xã Duyên Thái - huyện Thường Tín - tỉnh Hà Tây (74); Hoàng Thị Tố Quyên với Văn hóa làng Hạ Thái (94).
-
Nhóm luận án tiến sĩ tiếp cận sự biến đổi của nghề sơn:
- Luận án Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây (2008) của Nguyễn Xuân Nghị (chuyên ngành Văn hóa dân gian), tập trung vào ba làng Bình Vọng, Hạ Thái và Sơn Đồng.
- Luận án Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) (2009) của Nguyễn Lan Hương (chuyên ngành Văn hóa dân gian), nghiên cứu trường hợp làng Cát Đằng (Ý Yên, Nam Định).
- Luận án Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại (2013) của Lê Thanh Hương, hệ thống hóa sự thay đổi chất liệu từ góc độ nghệ thuật tạo hình từ năm 1925 đến nay.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước chủ yếu tiếp cận theo chuyên ngành Văn hóa dân gian, Lịch sử mỹ thuật hoặc dừng lại ở việc miêu tả kỹ thuật đơn thuần tại các trung tâm như Hạ Thái, Cát Đằng, Sơn Đồng. Hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng chỉ được nhắc tên thoáng qua trong công trình của Nguyễn Xuân Nghị và bài viết Hà Tây với truyền thống sơn mài của Nguyễn Văn Chuốt (26). Luận án của Nguyễn Thị Lan Hương là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hai trường hợp Bối Khê và Vũ Lăng dưới góc nhìn liên ngành Văn hóa học, làm rõ cơ chế biến đổi văn hóa giữa yếu tố khả biến và bất biến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Các khái niệm thao tác:
- Nghề sơn truyền thống: Kế thừa định nghĩa của Trần Minh Yến (126) và Mai Thế Hởn (47), luận án xác định đây là nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện lâu đời, truyền qua nhiều thế hệ, dù có áp dụng cải tiến công nghệ và máy móc hỗ trợ nhưng về cơ bản vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và tạo ra sản phẩm mang đặc trưng văn hóa dân tộc.
- Làng nghề sơn truyền thống: Dựa trên quan niệm của Trương Minh Hằng (42), xác định đây là làng vốn có nguồn gốc nông nghiệp, có từ 50% số hộ trở lên chuyên sống bằng nghề sơn, có đội ngũ thợ lành nghề, kết hợp kỹ thuật cổ truyền với công nghệ mới để chế tác sản phẩm.
- Biến đổi nghề sơn truyền thống: Vận dụng quan niệm của Nguyễn Duy Bắc (4), biến đổi được hiểu là sự thay đổi các thành tố cơ bản cấu thành nghề (nguyên vật liệu, quy trình, sản phẩm, thị trường, tổ chức sản xuất, nhân lực, môi trường) dưới tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội.
- Điểm tựa lý thuyết và luận điểm khoa học:
- Luận điểm biến đổi văn hóa làng: Dựa trên các nghiên cứu của Lương Văn Hy (130), Tô Duy Hợp (48), Phan Đại Doãn (32), Lương Hồng Quang (90), Nguyễn Thị Phương Châm (17), khẳng định biến đổi văn hóa làng là tiến trình tất yếu mang tính quy luật.
- Luận điểm đa dạng mô hình biến đổi nghề: Kế thừa công trình của Mai Thế Hởn (47), Trần Minh Yến (126), Dương Bá Phượng (86) về các cấp độ và mô hình chuyển dịch cơ cấu làng nghề thời kỳ công nghiệp hóa.
- Thuyết xung đột xã hội: Tiếp cận quan điểm của Karl Marx và các nhà xã hội học để phân tích các cặp tương tác/xung đột: truyền thống – hiện đại, bảo tồn – phát triển, thích nghi – biến đổi, kinh tế – văn hóa.
- Cặp phạm trù cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu:
- Yếu tố khả biến (cấu trúc bề mặt): Các thành tố ngoại tại, dễ biến động theo điều kiện kinh tế – kỹ thuật (nguyên liệu mới, máy móc hỗ trợ, thị trường xuất khẩu, hình thức tổ chức lao động).
- Yếu tố bất biến (cấu trúc chiều sâu/hằng số văn hóa): Những giá trị nằm trong tâm thức thợ nghề, đạo đức nghề nghiệp ("chữ Tâm" trong làm đồ thờ), bí quyết ngón nghề lưu giữ trong trí nhớ, và hệ giá trị Chân – Thiện – Mỹ.
Phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận liên ngành Văn hóa học: Kết hợp tri thức văn hóa học, dân tộc học/nhân học, xã hội học và kinh tế học văn hóa.
- Điền dã dân tộc học: Trực tiếp quan sát tham dự tại cơ sở sản xuất; phỏng vấn sâu cá nhân (nghệ nhân cao tuổi, thợ giỏi, chủ cơ sở sản xuất, cán bộ quản lý địa phương); phỏng vấn nhóm.
- Phương pháp tiếp cận tọa độ lịch đại và đồng đại: Khảo sát đối tượng qua ba trục thời gian (trước 1954, 1954–1986, 1986–2013) kết hợp so sánh đối chiếu đồng thời với các làng nghề lân cận.
- Phương pháp phân tích - so sánh, tổng hợp, hồi cố: Thu thập lời kể của các nghệ nhân cao niên, đối chiếu văn bản Hán Nôm, hương ước, sắc phong, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của địa phương.
Hệ thống dữ liệu và bảng biểu thống kê trong luận án
Luận án sử dụng các nguồn số liệu thống kê thu thập tại thực địa thuộc hai xã Chuyên Mỹ và Dân Hòa:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng biểu trong luận án |
Vị trí trang |
| Bảng 1 |
Tổng thu nhập từ các ngành nghề của làng Bối Khê trong 5 năm gần đây |
Tr. 61 |
| Bảng 2 |
Tổng thu nhập từ các ngành nghề của làng Vũ Lăng trong 5 năm gần đây |
Tr. 61 |
| Bảng 3 |
Số lượng các cơ sở sản xuất ở làng nghề Bối Khê trong 5 năm gần đây |
Tr. 79 |
| Bảng 4 |
Số lượng các cơ sở sản xuất ở làng nghề Vũ Lăng trong 5 năm gần đây |
Tr. 79 |
| Bảng 5 |
Số lượng lao động tại làng nghề Bối Khê trong 5 năm gần đây |
Tr. 81 |
| Bảng 6 |
Số lượng lao động tại làng nghề Vũ Lăng trong 5 năm gần đây |
Tr. 81 |
| Bảng 7 |
Số lượng lao động từ nơi khác đến làm nghề sơn tại làng nghề Bối Khê trong 5 năm gần đây |
Tr. 82 |
| Bảng 8 |
Số lượng lao động từ nơi khác đến làm nghề sơn tại làng nghề Vũ Lăng trong 5 năm gần đây |
Tr. 82 |
| Bảng 9 |
Số hộ nghèo của làng nghề Bối Khê |
Tr. 86 |
| Bảng 10 |
Số hộ nghèo của làng nghề Vũ Lăng |
Tr. 86 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về nghề sơn truyền thống ở châu thổ Bắc Bộ và ở các làng Bối Khê, Vũ Lăng (Thành phố Hà Nội)
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghề sơn truyền thống trên thế giới (dẫn chứng hiện vật mộ cổ Hokkaido 9000 năm tại Nhật Bản, bát sơn đỏ 7000 năm tại di chỉ Hemudu, Chiết Giang, Trung Quốc) và tại Việt Nam. Khảo cổ học chứng minh đồ sơn xuất hiện ở châu thổ Bắc Bộ từ thế kỷ IV TCN qua các phát hiện tại mộ cổ xã Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Nội) và đặc biệt là mộ thuyền Việt Khê (Thủy Nguyên, Hải Phòng) với các di vật phủ sơn then, sơn cánh gián cùng dụng cụ bàn vặn sơn, mỏ vầy, bát đánh sơn.
Tác giả phân loại 5 kỹ thuật chế tác cơ bản của nghề sơn cổ truyền Việt Nam:
- Sơn quang: Phủ 1-2 lớp sơn bóng chống thấm, chịu axit, chịu nhiệt lên bề mặt gỗ, tre, mây, nứa, ứng dụng trong kiến trúc đình chùa và đồ gia dụng.
- Sơn thếp: Kỹ thuật chuyên sâu cho đồ thờ (tượng, hoành phi, câu đối). Yêu cầu kỹ thuật thử độ bám dính của sơn cầm (pha dầu trẩu tùy mùa đông hay mùa hè) trước khi dán quỳ vàng, quỳ bạc.
- Sơn mài: Kỹ thuật mài phẳng nhiều lớp sơn (sơn gắn, sơn bó, sơn hom, sơn lót, sơn thí, sơn quang) để tạo độ sâu cho bề mặt tranh và đồ mỹ nghệ.
- Sơn khảm: Kết hợp cẩn vỏ trai, vỏ ốc, vỏ trứng hoặc bạc lá lên nền vóc sơn mài, sau đó phủ sơn và mài phẳng.
- Sơn khắc: Trổ khắc nét vẽ trên nền vóc phẳng rồi tô màu vào rãnh khắc (từng thịnh hành tại làng Đình Bảng).
Khảo sát diện mạo làng Bối Khê (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên): Làng có diện tích 130 ha (15 ha đất ở, 115 ha đất canh tác trũng ven sông Nhuệ). Toàn thôn có 512 hộ thì hơn 400 hộ làm nghề (chiếm khoảng 80%). Các di tích gồm đình làng thờ Cao Sơn Đại Vương, Từ Thiện Thượng Sĩ Quảng Đức Đại Vương, Từ Nhân Công chúa, Lưỡng Lự Công chúa; chùa Sùng Nghiêm Tự (chuông thời Tây Sơn); đền Đức Ông và đền Đức Bà. Làng Bối Khê nổi danh với nghề sơn khảm (khảm trai ốc, khảm trứng, sơn dán bạc), sử dụng vỏ trứng gà vịt tại chỗ, vỏ trai ốc nhập, vàng bạc quỳ Kiêu Kỵ, sơn ta Phú Thọ.
Khảo sát diện mạo làng Vũ Lăng (xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai): Nổi tiếng với nghề tạc tượng và sơn son thếp vàng đồ thờ. Dòng sản phẩm chủ đạo là hàng nét phục vụ tín ngưỡng tâm linh (tượng Phật, ngai, khám, hoành phi, cửa võng).
Chương 2: Nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Chương 2 tập trung phân tích các tác nhân, biểu hiện và hệ quả của quá trình biến đổi nghề sơn tại hai làng nghề:
-
Các tác nhân chủ yếu của quá trình biến đổi:
- Tác động của chính sách kinh tế và chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sau năm 1986.
- Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và giao lưu hội nhập quốc tế mở rộng thị trường xuất khẩu.
- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ mang lại các vật liệu thay thế và máy móc hỗ trợ.
- Sự chuyển dịch nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng trong và ngoài nước.
-
Những biểu hiện cụ thể của quá trình biến đổi:
- Biến đổi về nguyên vật liệu và quy trình kỹ thuật: Thay vì thuần túy sử dụng sơn ta và cốt gỗ tự nhiên (mít, dổi, vàng tâm), các cơ sở đã đưa vào sử dụng sơn công nghiệp (sơn dầu, sơn PU, sơn hạt điền Đài Loan, hóa chất tổng hợp), vóc ép bột gỗ (MDF), composite, gốm sứ; ứng dụng máy chà nhám, máy phun sơn, máy cắt hoa văn hỗ trợ lao động thủ công.
- Biến đổi về cơ cấu sản phẩm: Bối Khê chuyển trọng tâm từ đồ thờ sang hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu (tranh, bình, đĩa, hộp khảm trứng, khảm ốc); Vũ Lăng duy trì đồ thờ truyền thống nhưng đa dạng hóa mẫu mã theo đơn đặt hàng đa vùng miền và phục vụ kiều bào.
- Biến đổi về tổ chức sản xuất và thị trường: Chuyển từ mô hình hợp tác xã thời bao cấp sang các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, tổ hợp tác và kinh tế hộ gia đình; phương thức kinh doanh chuyển từ thụ động sang chủ động tiếp thị, mở showroom, ứng dụng công nghệ thông tin.
- Biến đổi về nguồn nhân lực và phương thức truyền nghề: Hình thành lực lượng lao động làm thuê từ các vùng lân cận; việc truyền nghề mở rộng ra ngoài phạm vi huyết thống dòng họ, xuất hiện các lớp đào tạo nghề ngắn hạn.
-
Hệ quả của quá trình biến đổi:
- Hệ quả tích cực: Tăng trưởng thu nhập, giải quyết việc làm cho lao động địa phương và lao động ngoại tỉnh (thể hiện qua các Bảng số liệu từ 1 đến 8), tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt (Bảng 9 và 10), nâng cao đời sống vật chất và cơ sở hạ tầng nông thôn.
- Hệ quả tiêu cực: Ô nhiễm môi trường do bụi gỗ, mùi hóa chất sơn công nghiệp, nước thải tẩy rửa; nguy cơ mai một bí quyết chế tác thủ công truyền thống bằng sơn ta; hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các xưởng sản xuất; suy giảm tính thiêng và giá trị thẩm mỹ cổ truyền ở một số sản phẩm sản xuất hàng loạt.
Chương 3: Vấn đề phát triển nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê, Vũ Lăng và những đóng góp mới của luận án
Chương 3 đề xuất định hướng, giải pháp phát triển bền vững và tổng kết các giá trị học thuật:
-
Định hướng và giải pháp phát triển:
- Quy hoạch không gian làng nghề: Xây dựng cụm công nghiệp làng nghề tập trung để di dời các khâu gây ô nhiễm (phun sơn, cưa cắt gỗ) ra khỏi khu dân cư, xử lý nước thải và rác thải công nghiệp.
- Bảo tồn tri thức bản địa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Vinh danh nghệ nhân, tổ chức các lớp truyền dạy kỹ thuật sơn ta cổ truyền cho thế hệ trẻ; gắn đào tạo nghề với kiến thức mỹ thuật hiện đại.
- Xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch làng nghề: Đăng ký nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm sơn khảm Bối Khê và đồ thờ Vũ Lăng; kết nối tuyến du lịch văn hóa làng nghề Hà Nội.
- Chính sách hỗ trợ vốn và công nghệ: Nhà nước tạo điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi, hỗ trợ đổi mới thiết bị thân thiện với môi trường, xúc tiến thương mại quốc tế.
-
Biện luận về tính mới của luận án:
- Hệ thống hóa toàn diện tư liệu thực địa về hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng vốn chưa từng được khảo sát chuyên sâu trước đó.
- Ứng dụng khung phân tích liên ngành Văn hóa học để làm sáng tỏ bản chất của sự biến đổi: phân định rõ mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố khả biến (kỹ thuật, vật liệu, mẫu mã) và yếu tố bất biến (tâm thức nghề, đạo đức "chữ Tâm", ngón nghề truyền thống).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Vận dụng và kiểm chứng phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học trong việc nghiên cứu một đối tượng cụ thể là làng nghề thủ công truyền thống đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội.
- Xác lập khung phân tích sự biến đổi nghề thủ công thông qua cặp phạm trù cấu trúc bề mặt (yếu tố động/khả biến) và cấu trúc chiều sâu (yếu tố tĩnh/bất biến/hằng số văn hóa), chứng minh rằng biến đổi văn hóa làng nghề là quá trình tiệm tiến, kế thừa và tích hợp giữa truyền thống và hiện đại.
- Cung cấp cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với phát triển kinh tế thị trường nông thôn.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bổ sung nguồn tư liệu thực địa chi tiết, đáng tin cậy về lịch sử, kỹ thuật chế tác, cơ cấu tổ chức và thực trạng sản xuất tại hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng vào kho tàng dữ liệu làng nghề truyền thống Hà Nội và đồng bằng sông Hồng.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng (qua hệ thống 10 bảng số liệu điều tra) giúp các cơ quan quản lý văn hóa, chính quyền địa phương (huyện Phú Xuyên, huyện Thanh Oai, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội) hoạch định chính sách phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh trước năm 1954 tàn phá nhiều di tích tại địa phương (khu vực Chuyên Mỹ từng là vành đai trắng bị tàn phá văn bia, sắc phong, thần tích), các tư liệu thành văn cổ về lịch sử khai lập làng và nhân vật tổ nghề chính xác của làng Bối Khê không còn đầy đủ, phải dựa nhiều vào phương pháp điều tra hồi cố và truyền ngôn dân gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa nghề sơn Việt Nam với các trung tâm sơn mài trong khu vực Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc); nghiên cứu sâu hơn về giải pháp xử lý chất thải độc hại trong công nghệ sơn mài mỹ nghệ quy mô hộ gia đình.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Lịch sử nghệ thuật, Mỹ thuật ứng dụng khi nghiên cứu về di sản thủ công truyền thống, biến đổi văn hóa và phương pháp điền dã thực địa.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu tại các viện nghiên cứu, trường đại học văn hóa - nghệ thuật cần tài liệu giảng dạy về văn hóa làng xã, nghề thủ công truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ.
- Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ hoạch định chính sách nông nghiệp - nông thôn tại TP. Hà Nội trong việc xây dựng đề án bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch làng nghề.
- Phần đáng tham khảo nhất: Bản mô tả chi tiết quy trình kỹ thuật pha chế sơn ta, quy trình làm vóc 12 nước sơn, kỹ thuật khảm trứng/khảm trai ốc ở Chương 1 và hệ thống bảng biểu khảo sát kinh tế - lao động làng nghề ở Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu cụ thể những loại hình kỹ thuật nào của nghề sơn truyền thống?
Luận án trình bày và phân tích 5 loại hình kỹ thuật cơ bản: sơn quang, sơn thếp, sơn mài, sơn khảm (khảm trai ốc, khảm trứng, dán bạc) và sơn khắc. Trong đó, nghiên cứu sâu vào kỹ thuật sơn khảm tại làng Bối Khê và sơn son thếp vàng đồ thờ tại làng Vũ Lăng.
2. Sự khác biệt căn bản trong cơ cấu sản phẩm giữa làng Bối Khê và làng Vũ Lăng là gì?
Làng Bối Khê tập trung thế mạnh vào hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu (tranh, bình phong, hộp, khay khảm trai ốc, khảm trứng), trong khi làng Vũ Lăng chuyên biệt hóa vào dòng sản phẩm đồ thờ (tượng Phật, ngai, khám, hoành phi, câu đối) phục vụ đời sống tín ngưỡng tâm linh nội địa và xuất khẩu kiều bào.
3. Những yếu tố nào được tác giả xác định là "bất biến" (cấu trúc chiều sâu) trong nghề sơn tại hai làng?
Yếu tố bất biến gồm: tâm thức "sinh nghề tử nghiệp" của nghệ nhân, quan niệm coi trọng "chữ Tâm" và tính thiêng trong chế tác đồ thờ, hệ giá trị thẩm mỹ Chân – Thiện – Mỹ, cùng các bí quyết ngón nghề pha chế sơn ta cổ truyền được bảo lưu trong trí nhớ người thợ.
4. Tác động tiêu cực lớn nhất của quá trình biến đổi nghề sơn tại hai làng nghề là gì?
Tác động tiêu cực rõ nét nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường sống do bụi cưa xẻ gỗ, hóa chất sơn công nghiệp (sơn PU, hóa chất pha màu) xả trực tiếp ra khu dân cư, cùng nguy cơ mai một dần kỹ thuật chế tác bằng sơn ta truyền thống do chi phí cao và tốn nhiều thời gian.
5. Dấu tích cổ nhất của đồ sơn tại Việt Nam được luận án dẫn chứng từ phát hiện khảo cổ học nào?
Luận án dẫn chứng hiện vật đoạn gỗ sơn đỏ tại mộ cổ xã Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Nội) có niên đại thế kỷ IV–V TCN và các hiện vật mái chèo, tráp gỗ, cán giáo phủ sơn tại mộ thuyền Việt Khê (Thủy Nguyên, Hải Phòng) có niên đại thế kỷ III–IV TCN.
Kết luận
Luận án của NCS. Nguyễn Thị Lan Hương là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về sự biến đổi của nghề sơn truyền thống tại hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng thuộc thành phố Hà Nội. Dưới lăng kính liên ngành Văn hóa học, tác giả đã làm rõ diện mạo lịch sử, phân tích các nhân tố thúc đẩy biến đổi và chỉ ra quy luật thích ứng của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cứ liệu khoa học vào mảng nghiên cứu di sản văn hóa thủ công truyền thống mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề nông thôn hiện nay.