Luận Văn Thạc Sĩ: Biến Đổi Kinh Tế Của Người Mường Tại Hiền Lương, Hòa Bình

Luận văn thạc sĩ phân tích biến đổi kinh tế của người Mường tại xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, trong bối cảnh hồ thủy điện.

Chuyên ngành

Khoa học Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2008

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi kinh tế của người Mường ở Hiền Lương Hòa Bình

Biến đổi kinh tế của người Mường ở Hiền Lương, Hòa Bình là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu văn hóa và xã hội. Khu vực này đã trải qua nhiều thay đổi do tác động của các dự án thủy điện, đặc biệt là thủy điện Hòa Bình. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống mà còn tác động sâu sắc đến sinh kế và văn hóa của người Mường. Việc hiểu rõ về biến đổi này giúp xác định các giải pháp phát triển bền vững cho cộng đồng.

1.1. Đặc điểm văn hóa và kinh tế của người Mường

Người Mường có một nền văn hóa phong phú với nhiều phong tục tập quán độc đáo. Kinh tế của họ chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với các loại cây trồng như lúa, ngô và các sản phẩm từ rừng. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế hiện nay đang gặp nhiều thách thức do biến đổi khí hậu và sự thay đổi trong chính sách đất đai.

1.2. Tác động của thủy điện Hòa Bình đến người Mường

Thủy điện Hòa Bình đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc gia, nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề cho người Mường. Việc tái định cư đã làm mất đi nhiều nguồn lực tự nhiên, ảnh hưởng đến sinh kế và văn hóa của họ. Nhiều người Mường phải tìm kiếm các nguồn thu nhập mới, dẫn đến sự thay đổi trong cách thức sống và làm việc.

II. Những thách thức trong phát triển kinh tế của người Mường ở Hiền Lương

Người Mường ở Hiền Lương đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển kinh tế. Những thách thức này bao gồm sự mất mát về đất đai, tài nguyên thiên nhiên và sự thay đổi trong cấu trúc xã hội. Việc thiếu hụt nguồn lực và cơ hội việc làm đã khiến cho nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc duy trì cuộc sống.

2.1. Mất mát tài nguyên và đất đai

Việc xây dựng thủy điện đã dẫn đến sự mất mát lớn về đất đai canh tác của người Mường. Nhiều hộ gia đình không còn đất để sản xuất nông nghiệp, buộc họ phải tìm kiếm các nguồn thu nhập khác, như làm thuê hoặc khai thác rừng.

2.2. Thay đổi trong cấu trúc xã hội

Sự di dời và tái định cư đã làm thay đổi cấu trúc xã hội của cộng đồng người Mường. Nhiều phong tục tập quán truyền thống bị mai một, và sự gắn kết trong cộng đồng cũng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến sự mất mát về bản sắc văn hóa của người Mường.

III. Phương pháp nghiên cứu biến đổi kinh tế của người Mường

Để hiểu rõ về biến đổi kinh tế của người Mường, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu định lượng. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp thu thập thông tin chính xác và đầy đủ hơn về tình hình kinh tế của người Mường.

3.1. Khảo sát thực địa và phỏng vấn

Khảo sát thực địa giúp thu thập thông tin trực tiếp từ người dân về tình hình kinh tế và sinh kế của họ. Phỏng vấn sâu với các hộ gia đình sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày của người Mường.

3.2. Phân tích dữ liệu định lượng

Phân tích dữ liệu định lượng từ các cuộc khảo sát sẽ giúp xác định các xu hướng và mô hình trong phát triển kinh tế của người Mường. Điều này sẽ hỗ trợ trong việc đưa ra các chính sách phát triển phù hợp.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu biến đổi kinh tế

Nghiên cứu về biến đổi kinh tế của người Mường không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn quan trọng. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển bền vững cho cộng đồng người Mường, giúp họ ổn định cuộc sống và bảo tồn văn hóa.

4.1. Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế

Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu cụ thể của người Mường. Điều này bao gồm việc cung cấp các nguồn lực cần thiết cho sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ đào tạo nghề.

4.2. Bảo tồn văn hóa và bản sắc dân tộc

Bên cạnh phát triển kinh tế, việc bảo tồn văn hóa và bản sắc dân tộc cũng rất quan trọng. Các chương trình giáo dục và truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa của người Mường trong cộng đồng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho người Mường ở Hiền Lương

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng người Mường ở Hiền Lương đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ đúng đắn từ chính phủ và các tổ chức xã hội, cộng đồng này có thể tìm ra các giải pháp bền vững để cải thiện cuộc sống. Triển vọng tương lai phụ thuộc vào khả năng thích ứng và phát triển của người Mường trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ chính phủ

Sự hỗ trợ từ chính phủ là rất cần thiết để giúp người Mường vượt qua những khó khăn hiện tại. Các chính sách phát triển cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

5.2. Khả năng thích ứng của người Mường

Khả năng thích ứng của người Mường với các thay đổi trong môi trường sống và kinh tế sẽ quyết định sự thành công trong việc phát triển bền vững. Việc duy trì bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển cũng là một yếu tố quan trọng.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm các chƣơng chính sau: Chƣơng 1: Môi trường sinh kế của người Mường ở Hiền Lương Tập trung phõn tớch cỏc nguồn lực tự nhiờn và nguồn lực xó hội tạo thành mụi trƣờng sinh kế của ngƣời Mƣờng trƣớc và sau tái định cƣ. Sự khác nhau về môi trƣờng sinh kế cũng đƣợc làm nổi rừ để nêu bật tính quyết định của nó đối với cách thức kiếm sống của ngƣời Mƣờng. Chƣơng 2: Những biến đổi sinh kế của người Mường ở Hiền Lương Tập trung phõn tớch những cỏch thức kiếm sống của ngƣời Mƣờng trƣớc và sau tái định cƣ, và mối liên quan mật thiết của nó với môi trƣờng sinh kế. Tính chất của nền kinh tế của ngƣời Mƣờng trong từng thời đoạn cũng đƣợc làm rừ với những biến đổi và nguyên nhân của sự biến đổi.

Chƣơng 3: Những thớch ứng về mặt văn hóa với sinh kế mới Sơ lƣợc trỡnh bày những biến đổi về mặt thiết chế xó hội: xúm/bản, dũng họ, gia đỡnh và những biến đổi chính trong lối sống của ngƣời Mƣờng do sự thay đổi của sinh kế và một số yếu tố khác. 14 CHƢƠNG I MÔI TRƢỜNG SINH KẾ CỦA NGƢỜI MƢỜNG Ở HIỀN LƢƠNG 1. Môi trƣờng sinh kế của ngƣời Mƣờng ở Hiền Lƣơng trƣớc tái định cƣ 1. Môi trường tự nhiên Xƣa Hiền Lƣơng là một xó nằm ven sụng Đà, nơi có con suối Hiền Lƣơng chảy qua trƣớc khi đổ ra sông Đà.

Trƣớc khi nƣớc sông Đà dâng cao, Hiền Lƣơng đó cú địa hỡnh hiểm trở và khỏ đa dạng, có núi cao rừng rậm kéo dài từ Toàn S lờn giỏp Tu Lý và vũng về xó Cao S tạo nờn một thung lũng lũng chảo rộng lớn dài 8km và hàng chục thung lũng nhỏ xen kẽ bởi các dải núi và đồi thấp nhấp nhô liên tiếp nhau. Núi đồi của Hiền Lƣơng có độ cao trung bỡnh 300m so với mặt nƣớc biển, có độ dốc lớn. Ngoài ra cũn cú nhiều bưa bói khỏ rộng nhƣ: bƣa Chiềng, bƣa Doi, bƣa Dƣng v. Đó là những cánh đồng lúa lớn của Đà Bắc Về tài nguyên đất, trƣớc ngày ngăn sông Đà, Hiền Lƣơng có 4546 ha rừng và đất rừng, 348ha đất trồng lúa nƣớc và 320,6 ha đất màu.

Rừng của Hiền Lƣơng trƣớc đây nằm trong hệ thống núi rừng kéo dài từ thị xó Hũa 15 Bỡnh lờn S La, Lai Chõu, cú tớnh chất của một loại rừng già, tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ. Ở đây có nhiều loại cây cổ thụ cao 30 – 40m mà 2,3 ngƣời ôm không xuể, nhiều loại gỗ quý nhƣ Lim, Sáu, Nghiến, Trũ, Chỉ… cú giỏ trị kinh tế cao. Ngoài ra, rừng Hiền Lƣơng cũn rất nhiều bƣơng, tre, nứa, giang, vầu và nhiều loại dƣợc liệu quý v.v… Ngoài diện tớch rừng, Hiền Lƣơng có hàng ngàn hecta đất rừng ở trên độ cao 100m và nhân dân địa phƣơng đó tận dụng đất này để trồng thêm các cây ăn quả và cây màu khác. Khí hậu của Hiền Lƣơng trƣớc ngày ngăn sông Đà cơ bản không thay đổi nhiều so với hiện tại, trong cảm nhận của nhiều ngƣời dân ở đây thỡ khớ hậu trƣớc kia nóng hơn.

Trƣớc khi xây dựng hồ Thủy điện Hũa Bỡnh, điều kiện tự nhiên của Hiền Lƣơng nói chung và 5 xóm đƣợc khảo sát nói riêng có nguồn lực đất, nƣớc, khí hậu phự hợp với việc sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nƣớc và chăn nuôi gia cầm, gia súc. Môi trường xó hội Hiền Lƣơng vốn là một miền đất cổ đƣợc hỡnh thành từ lõu đời. Năm 1983, các nhà khảo cổ học khai quật, tỡm thấy một chiếc trống đồng cùng nhiều hiện vật nhƣ: lƣỡi rỡu, lƣỡi búa và những công cụ lao động khác bằng đá, bằng đồng… Điều đó chứng minh rằng ngay từ thời đại xa xƣa, Hiền Lƣơng là một điểm sinh tụ của ngƣời Mƣờng, Trải qua hàng ngàn năm biến thiên của lịch sử, vùng đất Hiền Lƣơng có nhiều đổi thay. Theo sự truyền miệng, vào thế kỷ 15, cách đây khoảng 500 năm, đồng bào Thổ Thái thuộc dũng họ Xa ở Mộc Chõu, Quy Đức, Đức Nhàn di cƣ về nơi đây phát rừng, ở đây đầu tiên và lập thành những chũm xúm ở ven nỳi ven rừng, Tiếp theo là nhõn dõn Phỳ Thọ, Hũa Bỡnh đến vùng này với ƣớc mơ “an cƣ lạc nghiệp”.

Và sau đó là dân vùng Cao Phong, Thạch Yên đoạn tuyệt với bọn lang đạo địa phƣơng chạy đến Hiền Lƣơng cầu mong một cuộc sống yên lành v.v…Bởi vậy tên gọi Hiền Lƣơng dần dần hỡnh thành, nú gắn liền với quỏ trỡnh sinh cơ lập nghiệp mang đậm bản sắc, tâm niệm của nhân dân lao động tới xây dựng cuộc sống. Theo dũng lịch sử, dõn cƣ ngày một đông và họ lập thành các bản, các xóm với những tên gọi: Dƣng, Mơ, Doi, Chiềng, Ké; các xóm ở trên núi: Ang, Mái, Ngù đƣợc hỡnh thành sau. Lỳc đó, mỗi xóm chỉ khoảng năm bảy hộ với vài chục nhân khẩu. Người Mường ở Hiền Lương dưới chế độ lang đạo, thực dân phong kiến Trƣớc năm 1945, xó Hiền Lƣơng có 1 lang cun và 5 lang đạo.

Lang cun cai quản chung cả vùng, lang đạo chia nhau cai quản các xóm: Doi, Dƣng, Mơ, Chiềng, Ké. Bốn xóm: Ang, Gấu, Ngù, Mái không có lang mà do một lang đạo ở xóm khác cai quản, cho nên đƣợc gọi là đất thín. Lang đạo ở Hiền Lƣơng có một hệ thống giúp việc bao gồm: trựm xó, cai hầu, cai điền, giản thủ, cai nhưng, ậu bô v.v… Hệ thống giỳp việc này làm cỏc nhiệm vụ: bảo vệ 16 trị an, trụng coi việc hầu hạ, ruộng đất, thuế má, đóng giúp cho lang, giúp lang trong việc đốc thuế, phu phen, tạp dịch. Cõu ca Đất có lang như làng có đạo đó trở thành ý niệm sâu sắc của mỗi ngƣời dân Mƣờng nói riêng và ngƣời Mƣờng ở Hiền Lƣơng nói chung.

Bởi vậy, khi tới Hiền Lƣơng sinh cơ lập nghiệp, sau một thời gian, nhân dân tổ chức lên Mộc Châu, cầu mong ở quan lang một sự chở che, do đó lang ở Hiền Lƣơng là lang chiờu, dân có thể bỏ lang này và đi đón lang khác về, nên chế độ lang đạo ở Hiền Lƣơng không hà khắc nhƣ lang Mƣờng Bi, Mƣờng Vang, Mƣờng Thàng, Mƣờng Diềm v.v …Chế độ lang đạo ở Hiền Lƣơng vẫn quy định: dân trong vùng phải cày sâu, cấy nỗ, phải thay nhau đến phục dịch hầu hạ cho nhà lang. Khi lang có việc lớn nhƣ ma chay, cƣới xin, làm nhà v.v… dân phải đóng góp cho lang theo đầu ruộng. Ngƣời dân cƣới vợ, gả chồng cho con phải biếu lang một mâm cỗ đầy đủ thịt, xôi, một vai lợn hoặc một đùi trâu hay đùi bũ. Ai khụng làm bị coi là vi phạm lệ làng và bị phạt vạ.

Khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, ở Hiền Lƣơng chúng vẫn duy trỡ chế độ lang đạo. Tiêu biểu cho quan lang ở Hiền Lƣơng là Xa Văn Lƣợng (xóm Doi), gia đỡnh này 2 đời làm quan lang kiêm chánh tổng Hỡền Lƣơng. Trong nhà ông Lƣợng luôn có từ 1 đến 3 ngƣời hầu hạ, phục vụ. Toàn xó cú 72 ha ruộng cấy nƣớc thỡ lang Lƣợng chiếm 7,5ha loại tốt nhất, bắt dõn cày sõu, cấy nừ.

Năm 1937, Xa Văn Lƣợng đƣợc phong hàm Phó Tuần châu Mai Đà và đƣợc coi là một trong những tay chõn tớch cực phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa lúc đó. Sống trong chế độ thực dân phong kiến lang đạo, ngƣời dân lao động phải làm lụng vất vả quanh năm mà vẫn đói nghèo. Trƣớc năm 1945, trung bỡnh mỗi năm một hộ dân phải đi hầu hạ, cày sâu, cấy nừ… khụng cụng cho nhà lang 120 ngày, mỗi khi lang có việc cƣới xin, việc tang thỡ cứ 100 mạ dõn phải góp cho lang từ 1 đến 2 đồng (giá một con trâu lúc đó chỉ có 6 đồng), mỗi hộ phải góp 1 yến gạo và 5 lít rƣợu ngon. Khi thực dân Pháp ổn định bộ máy tổng lý kỳ hào trờn đất Hũa Bỡnh thỡ nhõn dõn Hiền Lƣơng phải đóng thêm 3 loại thuế chính: thuế đinh, thuế điền và thuế thổ trạch.

Thuế đinh là loại thuế đánh theo đầu ngƣời từ 18 tuổi trở lên; thuế thổ trạch đánh theo đầu nóc nhà. Và thuế đinh mỗi ngƣời phải đóng 1,5 đồng/năm. Toàn xó phải đóng thuế điền 300đ/năm, thuế thổ trạch mỗi nóc nhà đóng 100đ/năm. Trên thực tế bọn tổng lý, lang đạo bổ theo đầu ngƣời và theo hộ dân, nhiều khi cũn phự thu lạm bổ bắt ngƣời dân phải gánh chịu.

Cũn bọn chỳng thỡ thả sức vơ vột. Ngoài ra nhõn dõn cũn phải đi phu cho bọn thực dõn, chủ yếu là lờn rừng chặt gỗ, bƣơng, tre nứa mang lên châu lị tại Chờ Bờ theo yêu cầu từng đợt của quan trên. Tính riêng năm 1937, dân Hiền Lƣơng phải đi phu cho bọn thực dân hàng chục lần, mỗi lần 50 nhân 17 công khỏe đi trong vũng nửa thỏng. Sống dƣới chế độ thực dân phong kiến lang đạo, 100% nhân dân lao động Hiền Lƣơng bị mù chữ.

Đến năm 1937 cả Tổng mới có 1 trƣờng hƣơng đặt tại xóm Dƣng chuyên dành cho con em tổng lý kỳ hào. Năm 1942, do không có học sinh, trƣờng này phải chuyển lên Hào Tráng. Từ thủa xa xƣa khi mới tới vùng đất màu mỡ này, nơi đây cũn là nỳi rừng rậm rạp và nhiều thỳ dữ, những tập đoàn ngƣời từ tứ phƣơng quy lại, họ đó quõy quần bờn nhau, chung lƣng đấu cật, đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi, chống chọi với thú dữ, vật lộn với thiên nhiên để xây dựng cuộc sống. Trong quá trỡnh lao động và đấu tranh ấy, một sức sống kỳ diệu đó đƣợc hỡnh thành ở mỗi con ngƣời Hiền Lƣơng: cần cù, dũng cảm, đoàn kết, tự tin, trƣớc khó khăn không nản, trƣớc hiểm nguy không sờn.

Sức sống kỳ diệu ấy làm cho họ gắn bó với quê hƣơng, thiết tha với cuộc sống trên mảnh đất thấm bao nhiêu mồ hôi xƣơng máu của tổ tiên và từ đó hỡnh thành tỡnh yờu quờ hƣơng đất nƣớc, kiên quyết bảo vệ thành quả lao động mà chính bàn tay khối úc làm ra, kiên quyết chiến đấu với kẻ thù khi chúng đụng tới quê hƣơng đất nƣớc. Ngƣời dân địa phƣơng vẫn kể lại rằng vào cuối thế kỷ 19, khi bọn giặc Cờ Đen - tàn quân Thái Bỡnh Thiờn Quốc từ phƣơng Bắc tràn xuống nƣớc ta, chúng đó quấy phỏ nhiều nơi trên đất Hũa Bỡnh. Chỳng đó kộo vào Hiền Lƣơng và ở lại xóm Dƣng, rồi cƣớp bóc tàn phá quanh vùng. Nhân dân Hiền Lƣơng đó đoàn kết đồng lũng, tổ chức lực lƣợng dùng súng kíp bắn lại chúng.

Sau đó, cùng phối hợp với quõn các nơi trên vùng Hũa Bỡnh truy đuổi chúng tới tận Phú Thọ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ