Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu, với nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,7 độ C và mực nước biển dâng từ 20 đến 30 cm trong vòng 50 năm qua. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm 12,3% diện tích tự nhiên và 20% dân số cả nước, có đến 50% diện tích bị ngập lũ hàng năm và 40% diện tích bị xâm nhập mặn đe dọa trực tiếp. Nằm ở vùng ven biển phía Tây Nam của tỉnh Kiên Giang với bờ biển dài, huyện An Minh có nền kinh tế phụ thuộc lớn vào ngành Nông - Lâm - Thủy sản với tỷ trọng chiếm tới 89,01% cơ cấu kinh tế và diện tích đất nông nghiệp chiếm 91% trên tổng diện tích tự nhiên 59.055,71 ha. Toàn huyện có 11 đơn vị hành chính thì có tới 6 xã ven biển đang đối mặt với những hiện tượng thời tiết cực đoan như sạt lở bờ biển, triều cường, hạn hán và mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến các nguồn lực sinh kế và phân tích khả năng thích ứng của hộ nông dân ven biển. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích mức độ cảm nhận và tác động thực tế của biến đổi khí hậu đến ba ngành sản xuất trụ cột là trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và khai thác hải sản; đánh giá thực trạng năm nguồn vốn sinh kế; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu tổn thương, nâng cao thu nhập bình quân đầu người vượt mức 39,86 triệu đồng và duy trì sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã ven biển trọng điểm thuộc huyện An Minh bao gồm Thuận Hòa, Tân Thạnh, Đông Hưng A và Vân Khánh Đông trong khoảng thời gian khảo sát thực địa từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) kết hợp với khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Khung DFID tiếp cận sinh kế dựa trên sự tương tác của 5 nguồn vốn then chốt:

  • Vốn con người: trình độ học vấn, kỹ năng canh tác, tỷ lệ phụ thuộc lao động và tình trạng sức khỏe.
  • Vốn tự nhiên: diện tích đất canh tác, chất lượng nguồn nước mặt và tài nguyên rừng ngập mặn.
  • Vốn vật chất: nhà ở kiên cố, tàu thuyền, máy móc nông nghiệp và hạ tầng giao thông - thủy lợi.
  • Vốn tài chính: thu nhập bình quân, tiền tích lũy và khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng.
  • Vốn xã hội: mối liên kết cộng đồng, hợp tác xã và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Theo quan điểm của IPCC, tính dễ bị tổn thương được cấu thành từ ba thành tố: mức độ phơi nhiễm trước hiểm họa thiên tai, tính nhạy cảm của các nguồn vốn sinh kế và năng lực thích ứng của hệ thống kinh tế - xã hội. Các khái niệm nền tảng như sinh kế bền vững, khả năng phục hồi sau cú sốc thời tiết và năng lực thích nghi tại chỗ được chuẩn hóa để làm cơ sở xây dựng bảng hỏi và phân tích định lượng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê huyện An Minh năm 2016, báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2012-2020 của UBND huyện An Minh và các văn bản chỉ đạo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 120 hộ nông dân phân bổ đều tại 4 xã ven biển (mỗi xã 30 hộ: Thuận Hòa, Vân Khánh Đông, Tân Thạnh, Đông Hưng A). Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để bao phủ đầy đủ các tầng lớp kinh tế từ hộ nghèo, trung bình đến khá giàu có thời gian định cư lâu năm tại địa bàn. Nghiên cứu cũng tiến hành phỏng vấn sâu chuyên gia và người am hiểu địa phương (KIP) đối với các cán bộ khuyến nông và nông dân cao tuổi có hơn 40 năm kinh nghiệm sinh sống ven biển. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, lập bảng chéo và phân tích tần suất được thực hiện trên phần mềm chuyên dụng Stata 12 và MS Excel. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh trực quan, chính xác cơ cấu mẫu, tỷ lệ phần trăm các yếu tố tác động và mức độ tương quan giữa tổn thương sinh kế với điều kiện tự nhiên tại địa phương trong giai đoạn thu thập số liệu năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra rằng nhận thức của người dân về hiện tượng biến đổi khí hậu là rất rõ nét. Có 95,8% số hộ được khảo sát (115/120 hộ) đã tiếp nhận thông tin về biến đổi khí hậu qua phương tiện truyền thông và các buổi sinh hoạt đoàn thể. Khi đánh giá các biểu hiện thời tiết cực đoan trong 5 năm gần nhất, 85% người dân cảm nhận sự gia tăng của hạn hán và xâm nhập mặn; 76,7% nhận thấy nắng nóng kéo dài gia tăng. Ba hiện tượng được xác định xảy ra thường xuyên nhất lần lượt là xâm nhập mặn (chiếm 31%), nắng nóng kéo dài (chiếm 27%) và hạn hán (chiếm 21%).

Phát hiện thứ hai cho thấy sản xuất nông nghiệp và thủy sản chịu tổn thất nghiêm trọng. Toàn bộ 100% hộ dân thừa nhận sinh kế bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thời tiết cực đoan:

  • Ngành trồng trọt: Hiện tượng xâm nhập mặn làm giảm năng suất lúa ở 63,3% số hộ và làm thu hẹp 15% diện tích đất canh tác. Nắng nóng kéo dài khiến 60,8% hộ giảm năng suất cây trồng, trong khi hiện tượng nước biển dâng làm 69,1% hộ đối mặt với nguy cơ mất mùa và suy giảm sản lượng.
  • Ngành nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng toàn huyện đạt 49.363 tấn năm 2016 (trong đó tôm chiếm 40% với 19.799 tấn, cua biển chiếm 25% với 12.558 tấn) đang bị đe dọa nghiêm trọng. Xâm nhập mặn đột ngột làm 70% hộ nuôi thủy sản bị giảm năng suất, 25% hộ phản ánh sự bùng phát dịch bệnh trên tôm cua khi nhiệt độ nước tăng cao.
  • Ngành khai thác thủy sản: Mưa bão bất thường khiến 52,5% hộ giảm sản lượng đánh bắt và 16,9% hộ phải kéo dài thời gian nghỉ biển không thể ra khơi.

Phát hiện thứ ba chỉ ra sự hạn chế nghiêm trọng về nguồn vốn con người và vốn tự nhiên. Về học vấn, có tới 37,5% chủ hộ chỉ đạt trình độ trung học cơ sở và 32,5% chủ hộ dừng lại ở bậc tiểu học. Quy mô gia đình trung bình có 3,8 người nhưng gánh nặng phụ thuộc lên tới 2,18 người trên mỗi lao động chính. Bên cạnh đó, tình trạng xói lở bờ biển tại xã Vân Khánh Đông và Thuận Hòa đã làm mất hơn 40% diện tích rừng phòng hộ khoanh nuôi thủy sản, bờ biển sạt lở lấn sâu hơn 50 mét vào đất liền, buộc nhiều hộ dân phải từ bỏ đất sản xuất.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thống kê trong biểu đồ và bảng phân tích của luận văn phản ánh mối quan hệ nhân quả rõ rệt giữa sự suy thoái tài nguyên tự nhiên và năng lực tự vệ yếu ớt của nông hộ. Nguyên nhân chính khiến tổn thương gia tăng là do người dân ven biển An Minh áp dụng phương thức canh tác truyền thống quảng canh và bán thâm canh, phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện thời tiết tự nhiên và nguồn nước mặt. Khi độ mặn biến động vượt ngưỡng sinh lý, tôm cá chết hàng loạt mà không có hệ thống ao lắng hay công nghệ xử lý nước hiện đại hỗ trợ.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm tại dải ven biển Sóc Trăng và Cần Thơ, khẳng định các nhóm hộ nghèo, trình độ học vấn thấp và thiếu vốn luôn là đối tượng chịu thiệt hại nặng nhất khi đối mặt với các cú sốc khí hậu. Tuy nhiên, điểm sáng được ghi nhận là sự chuyển dịch chủ động sang mô hình canh tác tôm - lúa thích ứng sinh thái. Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, hạn chế dùng hóa chất và tận dụng chu kỳ nước lợ - ngọt tự nhiên, tạo ra sản phẩm sạch có giá trị thương phẩm cao trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và nâng cao tính bền vững cho sinh kế của nông dân huyện An Minh, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện công trình hạ tầng thủy lợi và đê biển: UBND tỉnh Kiên Giang và UBND huyện An Minh cần đẩy nhanh tiến độ thi công hệ thống cống đập ngăn mặn dọc tuyến đê biển từ kênh Quốc Phòng đến kênh Chống Mỹ và kênh Xáng Xẻo Rô trong giai đoạn 2018-2022. Mục tiêu là kiểm soát độ mặn, chủ động nguồn nước ngọt tưới tiêu cho hơn 21.000 ha vùng sản xuất tôm - lúa và 100 ha chuyên canh lúa 2 vụ tại xã Đông Hòa.
  • Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thông minh: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện hướng dẫn người dân nhân rộng mô hình tôm - lúa cải tiến, ứng dụng quy trình nuôi tôm 2 giai đoạn trên ao lót bạt an toàn sinh học. Đồng thời, quy hoạch 18.500 ha bãi bồi ven biển dài 37 km để nuôi chuyên canh sò huyết, vẹm xanh, hến biển và kết hợp khôi phục 2.560 ha rừng phòng hộ ven biển nhằm giảm thiểu sóng gió sạt lở.
  • Nâng cao chất lượng nguồn vốn con người và truyền thông cảnh báo sớm: Trung tâm Khuyến nông kết hợp với UBND các xã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ nuôi trồng thủy sản thích ứng mặn cho ít nhất 80% hộ nông dân trước năm 2020. Ứng dụng tin nhắn SMS và hệ thống truyền thanh để cung cấp kịp thời dự báo thời tiết nông vụ và độ mặn trên các tuyến kênh rạch.
  • Mở rộng chính sách tín dụng vi mô ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cần nới lỏng điều kiện vay vốn, kéo dài thời gian ân hạn và cung cấp các gói vay lãi suất thấp giúp 90% hộ nghèo và cận nghèo có nguồn vốn tái sản xuất, mua con giống chất lượng sau thiên tai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý và nhà hoạch định chính sách tại địa phương: Lãnh đạo UBND tỉnh Kiên Giang, UBND huyện An Minh và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn có thể sử dụng các số liệu thực chứng của 4 xã ven biển để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện đến năm 2030, điều chỉnh quy hoạch phân vùng sinh thái và phê duyệt các dự án đầu tư công trình thủy lợi.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên đại học: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Quản lý môi trường có thể tham khảo phương pháp tiếp cận khung sinh kế DFID và mô hình xử lý số liệu điều tra hộ nông dân bằng phần mềm Stata 12 phục vụ cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các chuyên viên dự án của Oxfam, UNDP, GIZ có thể khai thác bộ dữ liệu sơ cấp về tính tổn thương của 120 hộ dân để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế cộng đồng, bảo vệ rừng ngập mặn và tăng cường khả năng chống chịu thiên tai tại Tây Nam Bộ.
  • Ban quản trị hợp tác xã, tổ hợp tác và cán bộ khuyến nông cơ sở: Cung cấp giải pháp thực tiễn về kỹ thuật luân canh tôm - lúa cải tiến, giúp xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông sản khép kín từ khâu cung ứng giống đến khâu tiêu thụ sản phẩm cho nông hộ ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan nào nghiêm trọng nhất tại huyện An Minh?
Theo kết quả khảo sát 120 hộ dân, ba hiện tượng phổ biến nhất là xâm nhập mặn (31%), nắng nóng kéo dài (27%) và hạn hán (21%). Xâm nhập mặn sâu vào nội đồng làm giảm năng suất canh tác của 63,3% hộ trồng lúa và ảnh hưởng tiêu cực tới 70% hộ nuôi thủy sản.

Mô hình sinh kế nào được đánh giá là thích ứng hiệu quả nhất với tình trạng xâm nhập mặn tại địa phương?
Mô hình canh tác tôm - lúa cải tiến kết hợp nuôi cua biển và tôm càng xanh được xem là tối ưu nhất. Mô hình này tận dụng linh hoạt nguồn nước lợ trong mùa khô để nuôi tôm và nguồn nước mưa mùa ngọt để trồng lúa, giúp giảm chi phí sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Nguồn vốn con người của các hộ nông dân ven biển An Minh gặp những rào cản lớn nào?
Học vấn của chủ hộ ở mức thấp với 37,5% đạt trình độ trung học cơ sở và 32,5% ở bậc tiểu học. Thêm vào đó, tỷ lệ phụ thuộc cao với trung bình 2,18 người phụ thuộc trên mỗi lao động chính khiến việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp gặp nhiều trở ngại.

Hiện tượng sạt lở bờ biển tại An Minh ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân ra sao?
Sạt lở bờ biển diễn ra gay gắt tại các xã Vân Khánh Đông và Thuận Hòa với chiều sâu ăn mòn hơn 50 mét từ biển vào đất liền, phá hủy hơn 40% diện tích rừng ngập mặn khoanh nuôi thủy sản, làm mất đất sản xuất và đẩy nhiều hộ dân vào cảnh di cư làm thuê.

Chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông dân vùng chịu ảnh hưởng thiên tai cần tập trung vào khía cạnh nào?
Chính sách cần ưu tiên khoanh nợ, giãn nợ cho các hộ gặp rủi ro mất mùa, đồng thời triển khai các gói vay tín chấp vi mô lãi suất ưu đãi nhằm hỗ trợ nông dân kịp thời mua con giống mới, cải tạo ao đầm lót bạt và chủ động khôi phục sản xuất sau thiên tai.

Kết luận

  • Biến đổi khí hậu đang tác động sâu rộng đến sinh kế nông hộ ven biển An Minh thông qua ba hiểm họa chính: xâm nhập mặn (31%), nắng nóng kéo dài (27%) và hạn hán (21%).
  • Năng lực chống chịu của người dân bị hạn chế do hạn chế về nguồn vốn con người (70% chủ hộ có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống) và sự suy giảm nguồn vốn tự nhiên do sạt lở ven biển (>40% diện tích rừng phòng hộ bị ảnh hưởng).
  • Toàn bộ 100% hộ dân khảo sát ghi nhận thiệt hại sản xuất, trong đó năng suất nuôi trồng thủy sản giảm ở 70% số hộ và năng suất trồng trọt giảm ở 63,3% số hộ do mặn hóa.
  • Mô hình tôm - lúa cải tiến và nuôi thủy sản sinh thái dưới tán rừng ngập mặn trên diện tích 21.000 ha được xác định là hướng đi chiến lược thích ứng bền vững.
  • Luận văn đóng góp khung giải pháp toàn diện từ công trình thủy lợi, tín dụng ưu đãi đến nâng cao năng lực cộng đồng, cung cấp căn cứ khoa học cho chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách giai đoạn 2018-2025. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp dữ liệu luận văn để áp dụng vào các dự án phát triển sinh kế ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.