CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI Ê-ĐÊ Ở XÃ HÒA XUÂN, THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 1. Cơ sở lý luận về hôn nhân 1. Khái niệm hôn nhân và quan hệ hôn nhân Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, bao gồm nhiều yếu tố và mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực.
Hôn nhân là bước ngoặt, là nghi thức hết sức quan trọng trong chu kỳ đời người, là tập tục không thể thiếu trong bất cứ đời sống xã hội của mỗi tộc người. Với mục đích là tái tạo, phát triển nòi giống và tái sản xuất ra của cải vật chất, hôn nhân phản ánh mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lý tộc người. Từ trước đến nay có nhiều khái niệm về hôn nhân. Nhìn chung các khái niệm này ở nhiều nghiên cứu có những điểm tương đồng.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn. Nói cách khác, hôn nhân là sự thừa nhận mặc nhiên của cộng đồng theo luật tục và được pháp luật công nhận”. Dưới góc nhìn nhân học “Hôn nhân là sự giao kết giữa nam và nữ được hợp thức hóa bởi các tập quán và luật pháp xã hội, nhằm chung sống khác giới tính với nhau để tái sản xuất ra con người, từ đó sản sinh ra những quyền hạn và trách nhiệm vợ chồng trong quan hệ với nhau và con cháu của họ” (Khoa Nhân học, 2008, tr. Một định nghĩa thường được trích dẫn trong Notes and queries in Anthropology: “Hôn nhân là sự kết giao giữa một người đàn ông và một người phụ nữ sao cho những đứa trẻ do người phụ nữ sinh ra được thừa nhận là con cái hợp pháp của cả hai người phối ngẫu (Kottak, Conrad Phillip, 2002, tr.
Còn theo quan điểm của Emily A.Schultz và Robert H.Lavenda cho rằng, “Một hôn nhân mẫu đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên. Hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của 18 con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng” (Emily A.Schultz và Robert H. Theo nhà nhân học Anh Edmun Leach (1955) cho rằng tùy vào từng mô hình xã hội, nhiều kiểu quyền lợi khác nhau được quy định những định chế được xem là hôn nhân. Theo Leach, hôn nhân có thể: Xác lập tư cách làm cha hợp pháp của một người đàn ông đối với con cái của một phụ nữ và tư cách làm mẹ hợp pháp của một người phụ nữ đối với con cái của một người đàn ông.
Xác lập tư thế độc quyền của một hoặc cả hai người trong quan hệ tình dục đối với người kia. Dành cho một hoặc cả hai quyền sử dụng sức lao động của người kia. Dành cho một hoặc cả hai quyền định đoạt tài sản của người kia. Thành lập một quỹ tài sản chung nhằm đáp ứng quyền lợi con cái.
Thiết lập “quan hệ tình cảm” quan trọng về phương diện xã hội giữa hai vợ chồng và bà con họ hàng hai bên (Như trích dẫn ở Kottak, Conrad Phillip, 2002, tr. Về mặt xã hội, hôn nhân có bốn đặc điểm: hôn nhân biến đổi địa vị của những người liên quan; hôn nhân thay đổi các quan hệ trong họ hàng của mỗi bên; hôn nhân duy trì xã hội và các mô hình xã hội thông qua việc sinh con cái; hôn nhân thường thể hiện qua lễ cưới nhằm đánh dấu sự biến đổi vai trò, vị thế của hai các nhân trở thành một cặp vợ chồng. Trong tác phẩm Lời nói đầu cuốn “phê phán triết học pháp quyền” của Hêghen, Các Mác đã nói tới tầm quan trọng của nghi lễ trong hôn nhân “Cưới xin là việc trăm năm của con người do vậy tục lệ cưới xin rất hệ trọng. Trong các tục lệ liên quan đến cưới xin, mỗi động tác, mỗi việc làm không chỉ có nghĩa đen, nghĩa thực mà còn có cả nghĩa bóng, có ẩn ý một sự cầu mong ở tổ tiên một điều phù hộ nào đó.
Tục lệ cưới xin thường trải qua nhiều nghi lễ phức tạp và nghiêm khắc; Lễ cưới là niềm vui tổng hợp vừa có vật chất vừa có tinh thần (Các Mác, 1962, tr. 19 Ở các tộc người, để đánh dấu bước ngoặt trong đời sống của cá nhân từ trạng thái độc thân sang trạng thái có vợ, có chồng, mở đầu cuộc sống gia đình họ thường tổ chức lễ cưới (đám cưới). Lễ cưới của tộc người mang đậm sắc thái văn hóa tộc người bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Sau lễ cưới, một loạt mối quan hệ xã hội được nảy sinh, hình thành và phát triển cùng với đó là những tên gọi biểu thị những mối quan hệ xã hội đó như: Bố chồng, bố vợ, mẹ chồng, mẹ vợ… Qua đó, ta thấy khái niệm hôn nhân và cưới xin là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất.
Hôn nhân là cả quá trình nhằm thiết lập quan hệ vợ chồng, gồm cả thủ tục pháp lý và nghi thức, nghi lễ để có được sự công nhận của gia đình, dòng họ, cộng đồng còn lễ cưới hay hôn lễ chỉ là một bước quan trọng trong quá trình hôn nhân để thiết lập một gia đình. Trong luận văn, tôi xem xét và nhìn hôn nhân dưới góc độ văn hóa và xã hội đặt trong bối cảnh phát triển của loài người. Vì vậy, tôi sử dụng khái niệm “Hôn nhân là sự liên kết nhằm hình thành cuộc sống chung giữa người đàn ông với người đàn bà được hợp thức bởi luật tục hoặc luật pháp. Về văn hóa, hôn nhân phản ánh đặc trưng văn hóa tộc người thông qua hệ thống các phong tục, nghi lễ truyền thống và trở thành chuẩn mực trong quan hệ xã hội.
Về xã hội, hôn nhân là tiền đề cho sự hình thành gia đình, nên đó là cơ sở tạo nên quan hệ vợ chồng và quan hệ huyết thống, quan hệ thân thích thông qua đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của cặp vợ chồng”. Các chức năng của hôn nhân Hôn nhân kiểm soát và hợp thức hóa quan hệ giới tính nhằm đến sự kết hợp và cân bằng trong toàn xã hội. “Hôn nhân đáp ứng một trong những yêu cầu cơ bản của nhân loại là tái sản xuất con người” (Khoa Nhân học, 2015, tr. Hôn nhân là thể chế vừa thỏa mãn nhu cầu cá nhân vừa phục vụ cho mục đích của xã hội.
Người ta đặc biệt nhấn mạnh chức năng tái sản xuất ra con người để duy trì nòi giống. Trong đó, “quan hệ hôn nhân giới hạn và xác định những người đàn ông, đàn bà nào được phép hay không được phép lấy nhau làm vợ làm chồng để có quan hệ giới tính hợp pháp. Sự giới hạn 20 ấy hoàn toàn do yếu tố văn hóa của con người chi phối, nó không phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên. Hôn nhân là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên.
Điều này thể hiện rất rõ thông qua quy tắc cấm kỵ loạn luân và quy tắc ngoại hôn của tất cả xã hội loài người” (Khoa Nhân học, 2015, tr. Hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có những quy tắc cấm kỵ loạn luân, đây là một quy tắc phổ quát nhất, nhưng cũng mang tính tương đối tùy thuộc vào từng chế độ xã hội, mỗi nền văn hóa. Những nguyên tắc này hướng tới sự kết hợp và cân bằng trong toàn xã hội. Điều này thể hiện rất rõ trong nguyên tắc hôn nhân của người Ê-đê, đó là ngoại hôn dòng họ, nội hôn tộc người.
Người Ê-đê cho rằng những chàng trai cô gái cùng chung một họ (cùng họ Niê, cùng họ Ayun…) dù cách nhiều đời, sống khác địa bàn nếu lấy nhau sẽ phạm vào tội loạn luân. Vì vậy, từ lúc còn bé họ đã được bố mẹ, gia đình giáo dục về điều cấm kỵ này, tránh yêu và lấy người cùng dòng họ. Quan niệm của họ cho rằng người cùng dòng họ là do cùng một mẹ, một nguồn gốc. Hôn nhân xác định quyền lợi, trách nhiệm cho những người liên quan “Hôn nhân là tiền đề tạo lập gia đình mới, quy định quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các thành viên trong gia đình, như trách nhiệm của bố mẹ dành cho con cái, ông bà đối với cháu, anh chị em trong gia đình.
Dưới góc độ kinh tế- xã hội, hôn nhân là một quá trình mà trong đó hai bên liên quan phải thực hiện một chuỗi các quyền lợi và nghĩa vụ với nhau. Khi một cuộc hôn nhân được thực hiện, theo tập quán thường có sự chuyển giao tài sản từ gia đình chú rể sang gia đình cô dâu, gọi là đồ sính lễ” (Khoa Nhân học, 2015, tr. Ở người Ê-đê, nhà gái sẽ là bên chịu trách nhiệm về sính lễ cho nhà trai. Số lượng sính lễ phụ thuộc vào nhiều yếu tố (phẩm chất của chàng trai, điều kiện kinh tế của nhà gái, sự thuận tình của hai gia đình).
Sính lễ sau khi được giao cho nhà trai sẽ được chia cho bố mẹ, những người trong gia đình, dòng họ. Khi cuộc hôn nhân gặp bất trắc, những người được nhận sính lễ sẽ có trách nhiệm động viên, chia sẻ, động viên cặp vợ chồng. Khi ly hôn, bên nhà trai hay người chồng sẽ phải đền gấp đôi, hoặc hơn gấp nhiều lần sính lễ (tùy vào lý do ly hôn) cho người vợ, lúc này những người trong gia đình, dòng họ sẽ có trách nhiệm chia sẻ, gánh vác phần gánh nặng kinh tế. Qua đó, ta thấy sính lễ trong hôn nhân 21 của người Ê-đê không chỉ mang tính biểu trưng giá trị, phẩm chất của chàng trai mà còn là chất keo gắn kết hôn nhân, gia đình, dòng họ.
Hôn nhân là phương thức tạo dựng mạng lưới liên minh xã hội Hôn nhân là một quá trình có tính xã hội. Hôn nhân tạo nên các mối quan hệ mới giữa họ hàng người chồng và họ hàng người vợ. Các quan hệ này được gọi là quan hệ thông gia (quan hệ tạo nên qua hôn nhân) và tương phản với quan hệ huyết thống. Hai mối quan hệ này nằm ở trung tâm của định nghĩa về hôn nhân và sự hình thành các nhóm xã hội.
Một mình quan hệ tính giao không tạo nên quan hệ với họ hàng bên vợ hay bên chồng, chỉ có hôn nhân mới thực hiện được công việc này.