đặt vấn đề an ninh lương thực của một quốc gia vốn luôn đứng đầu về xuất khẩu gạo trước những thách thức về tính bền vững. Do đó, Chính phủ đã ra Nghị quyết về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia với mục tiêu phải giữ bằng được 3,8 triệu ha đất lúa [76]. Ở thời điểm hiện tại, giá lương thực trên toàn cầu đang ở ngưỡng “nguy hiểm” và được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cực tới sự phát triển kinh tế xã hội cũng như đời sống của người dân tại nhiều quốc gia trên thế giới. Một trong những tác nhân lớn nhất dẫn tới sự thu hẹp của diện tích đất lúa tại Việt Nam trong thời gian qua chính là việc phát triển các KCN, khu chế xuất.
Về mặt định hướng phát triển, mô hình các KCN, các khu chế xuất là lựa chọn đúng đắn bởi khả năng tạo việc làm, cải thiện cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, dù đã có lịch sử 20 năm nhưng có ba vấn đề đặt ra trong phát triển các KCN tại Việt Nam vẫn chưa được giải quyết triệt để: (i) quy hoạch các KCN, (ii) hiệu quả sử dụng đất tại các KCN và (iii) khả năng giải quyết việc làm cho lao động địa phương trong quá trình chuyển đổi. Về vấn đề thứ nhất, đa số các KCN đều lựa chọn những vị trí “đắc địa” nên việc đặt KCN vào khu vực sản xuất nông nghiệp là hết sức phổ biến. Đối với vấn đề thứ hai, các KCN thường có diện tích từ vài chục tới vài trăm ha nhưng tỷ lệ lấp đầy các KCN lại thường ở mức khá khiêm tốn.
Đối với vấn đề thứ ba, cũng là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm hơn cả, hiện tại khả năng giải quyết việc làm cho lao động địa phương từ phát triển các KCN là khá hạn chế cho dù có những căn cứ pháp lý liên quan tới trách nhiệm của chủ đầu tư với vấn đề tạo việc làm cho lao động địa phương. Thất nghiệp, thiếu việc làm là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nông dân sau khi bị thu hồi đất, chính vì thế bản thân các cơ quan chức năng trong thời gian qua dù đã rất cố gắng tìm ra các giải pháp để giải quyết tình trạng này thì vấn đề lao động, việc làm cho nông dân mất đất vẫn cứ là một bài toán khó. Theo Nguyễn Sinh Cúc vấn đề mấu chốt liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhận đất: “Tỷ lệ lao động mất đất được doanh nghiệp (nhận đất) đào tạo ở Hà Nội là 0,01%, Hà Tây: 0,02%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 0%. Trong khi đó, lao động do Nhà nước đào tạo nghề cho nông dân vùng mất đất cũng không đáng kể: Hà Nội: 0,01%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 1,2%; Hà Tây: 0%.
Tỷ lệ lao động do gia đình tự đào tạo có cao hơn nhưng cũng còn xa 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com so với yêu cầu tạo việc làm mới phi nông nghiệp: Hà Nội: 0,9%, Hải Phòng: 0,01%; Bắc Ninh: 0,3% và Hà Tây: 0,09%” [Nguyễn Sinh Cúc, 2009, tr14]. Có một thực tế ruộng đất gắn bó với nông dân không chỉ với tư cách là một tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng mà ruộng đất còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa, lối sống của người dân nông thôn. Cứ một ha đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ ảnh hưởng tới 10 lao động nông nghiệp.[Phạm Văn Vân, 2014, tr438] Do đó, việc thu hồi đất nông nghiệp không chỉ làm thay đổi sinh kế của nông dân mà còn dẫn tới nguy cơ biến đổi những giá trị văn hóa, lối sống của họ và đặc biệt là con cái họ. Sự biến đổi này đáng tiếc lại đang có quá nhiều yếu tố tiêu cực.
Do đó, việc đền bù không chỉ phải tính đến những giá trị vật chất mà còn phải tính đến cả những giá trị phi vật chất và bản thân những hỗ trợ cũng không nên chỉ được thực hiện có một lần duy nhất. Hệ thống các chính sách dạy nghề nói chung và chính sách dạy nghề cho nông dân mất đất nói riêng của Việt Nam hiện nay là khá đa dạng và đã có “thâm niên” khá lâu đời. Các chính sách này là một trong những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tổng thể các chính sách liên quan tới hỗ trợ, đền bù khi thu hồi đất. Bên cạnh đó, từ nhiều năm nay việc triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt sau khi Chính phủ thông qua Đề án 1956 cũng đã được triển khai sâu rộng và mang lại nhiều hiệu quả tích cực.
Tuy nhiên, công tác dạy nghề, tạo việc làm liên quan tới thu hồi đất cho nông dân thực tế vẫn còn rất nhiều hạn chế từ cách làm, loại nghề, đối tượng… cho đến quyết tâm và trách nhiệm của các bên có liên quan, ngay cả của chính những người nông dân khi họ vừa có trong tay một khoản tiền lớn. Và hệ quả của vấn đề này thì ai cũng rõ. Rõ ràng, cả ở cấp vĩ mô và ở cấp địa phương hệ thống chính sách liên quan tới vấn đề tam nông nói chung và đối với vấn đề lao động việc làm của nông dân tại các khu vực bị thu hồi đất nói riêng là rất nhiều, rất đầy đủ song vẫn còn có rất nhiều những vấn đề xã hội vẫn đang tồn tại và tiếp tục nảy sinh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đằng sau câu chuyện nông dân mất đất. Với những vấn đề đặt ra đối với lao động và việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp biến đổi như thế nào, do đó tôi đã chọn để thực hiện trong luận án với tên là: "Biến đổi cơ cấu lao động, việc làm của người dân khu vực thu hồi đất nông nghiệp" (Nghiên cứu tại xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội và xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc).
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận án vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết di động xã hội và lý thuyết thị trường lao động để lý giải biến đổi cơ cấu lao động, việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp góp phần kiểm chứng lý thuyết trong thực tiễn. Luận án sử dụng phương pháp điều tra Xã hội học sẽ đưa ra những căn cứ khoa học từ thực tiễn, giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá quá trình biến đổi cơ cấu lao động, việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp một cách đầy đủ, toàn diện. - Luận án sẽ là tài liệu bổ ích cho những người quan tâm đến các chính sách ruộng đất, chuyển đổi đất đai và vấn đề lao động, việc làm của người dân. - Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho nhà quản lý nhìn nhận đầy đủ về cơ cấu lao động, việc làm của người dân sau thu hồi đất và những biến đổi của nó, từ đó có căn cứ khoa học để đưa ra các quyết sách giải quyết công ăn việc làm của nông dân- môt lực lượng lao động lớn trong xã hội hiện nay với các chiến lược phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa của nước ta.
Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Biến đổi cơ cấu lao động, việc làm của người dân ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp (nghiên cứu tại xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội và xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc). 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khách thể nghiên cứu - Hộ dân - Lãnh đạo chính quyền 3.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi thời gian thực hiện luận án: từ 2011 đến 2015 - Phạm vi thời gian nghiên cứu: Trong giai đoạn khoảng 10 năm gần đây. - Phạm vi không gian: Để thu thập thông tin luận án tiến hành khảo sát tại 2 địa bàn, đó là xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc và xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội. - Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trong luận án này tôi tập trung chủ yếu vào mô tả thực trạng cơ cấu lao động, việc làm của người dân trước và sau khi thu hồi đất nông nghiệp. Một số yếu tố tác động đến sự biến đổi cơ cấu lao động việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp.
Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của luận án 4. Mục tiêu chung - Phân tích làm rõ thực trạng đất nông nghiệp của người dân bị thu hồi - Phân tích thực trạng biến đổi cơ cấu lao động,việc làm tại các vùng có thu hồi đất nông nghiệp. - Tìm hiểu các nhân tố tác động đến biến đổi cơ cấu lao động, việc làm tại các vùng có thu hồi đất nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể - Phân tích làm rõ thực trạng cơ cấu lao động, việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp.
- Mô tả quy mô thu hồi đất, mục đích thu hồi đất - Mổ tả loại đất bị thu hồi: đất ao, đất trồng hoa mầu, đất trồng lúa - Mức độ đền bù, phục hồi sinh kế của chính quyền/ chủ đầu tư - Đánh giá của người dân về thực trạng thu hồi đất (phương thức đền bù, thủ tục, quy trình …). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đánh giá của người dân về mức độ hỗ trợ, quan tâm, thấu hiểu của chính quyền/ chủ đầu tư đối với người dân. - Phân tích và so sánh thay đổi cơ cấu lao động, việc làm trước và sau khi thu hồi đất nông nghiệp (cơ cấu theo tuổi, giới, trình độ, loại hình nghề nghiệp, việc làm…). - Chỉ ra nhân tố tác động đến cơ cấu lao động, việc làm và làm rõ mức độ của từng yếu tố (di cư…).
- Làm rõ thực trạng thích ứng của người dân sau khi thu hồi đất và chỉ ra những nhân tố tác động đến sự thích ứng của người dân. - Dự báo xu hướng dịch chuyển cơ cấu lao động, việc làm. Câu hỏi nghiên cứu - Biến đổi cơ cấu lao động, việc làm ở khu vực thu hồi đất nông nghiệp như thế nào? - Xu hướng biến đổi cơ cấu lao động, việc làm như thế nào? - Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi cơ cấu lao động, việc làm của người dân? 6. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích - Cơ cấu lao động, việc làm của người dân khu vực thu hồi đất nông nghiệp biến đổi nhanh, có sự khác nhau trong sự chuyển đổi lao động, việc làm giữa các nhóm tuổi.
- Người dân bị thu hồi đất nông nghiệp có xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ.