Chương 1 KHÁI NIỆM, HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ 1. KHÁI NIỆM CHÍNH THỂ Chủ nghĩa Mác về Duy vật lịch sử phân tích lịch sử hình thành và phát triển xã hội loài người thành năm hình thái kinh tế -xã hội, nhưng chỉ có bốn hình thái có nhà nước: chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản và chế độ xã hội chủ nghĩa, ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội này là một kiểu nhà nước. Phù hợp với mỗi một kiểu nhà nước là một bản chất nhà nước, hay nói cách khác mỗi kiểu nhà nước lại có bản chất nhà nước riêng. Bản chất nhà nước có thể là một nhưng hình thức nhà nước thể hiện bản chất thì rất đa dạng phụ thuộc vào từng hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể, đặc điểm dân tộc khác nhau.
Cùng là nhà nước thể hiện bản chất Tư sản, nhưng hình thức tổ chức lại rất khác nhau. Quy định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cũng là quy định hình thức nhà nước. “Chính thể trong khoa học luật Hiến pháp được gọi là mô hình tổ chức. Hay nói một cách khác, chính thể phải dựng ra một bộ xương cho cơ thể nhà nước.
Đây là vấn đề quan trọng, góp phần tạo nên cơ sở của mọi hoạt động nhà nước sau này. Vì vậy chính thể là vấn đề cơ bản nhất của mỗi bản Hiến 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp, đạo luật cơ bản nhất của nhà nước. Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mỗi một bản Hiến văn là phải lực chọn cho nhà nước một mô hình tổ chức cơ cấu thích hợp.” [17, tr 71] Hình thức chính thể là mô hình tổ chức hoạt động của nhà nước được phân tích dưới giác độ tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực ( Chủ yếu là Hành pháp và Lập pháp) với nhau và giữa cơ quan nhà nước trung ương với nhân dân. Qua đó cho chúng ta thấy được quyền lực nhà nước do ai thống trị và thống trị như thế nào, quyền lực nhà nước được tổ chức tập trung hay phân tán … Hay cụ thể hơn hình thức chính thể chính là cách phân tích nhà nước thành các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng khác nhau: cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, cơ quan thực hiện chức năng lập pháp và các cơ quan thực hiện chức năng xét xử.
Các hoạt động của nhà nước được phân tích thành ba quyền: quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp. Tóm lại theo PGS, TS Nguyễn Đăng Dung thì chính thể được định nghĩa như sau :“ Chính thể là xét mô hình tổ chức nhà nước dưới giác độ cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các cơ qua cấu thành nên bộ máy nhà nước. Trước hết là mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của quốc gia với nhân dân.” [20, tr 56] Cũng theo PGS, TS Nguyễn Đăng Dung thì việc định nghĩa trên để giải quyết bốn vấn đề chính liên quan đến cách tổ chức chính trị của mỗi quốc gia đó là: - Loại vấn đề liên quan đến căn bản triết lý hay tinh thần của chế độ: Tại sao quyền chủ thể trong một quốc gia lại được trao cho một người hay một nhóm người mà thôi? Tại sao nhân dân trong nước lại phục ting người đó? 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Loại vấn đề liên quan đến việc lựa chọn nhà cầm quyền, do phương pháp chỉ định, hay phương pháp bầu cử, bắt thăm hay suy cử… - Loại vấn đề liên quan đến cách tổ chức cơ quan năm quyền thống trị. Vì cơ quan thống trị gồm nhiều bộ phận khác nhau, nên vần đề đặt ra cần phải đặt sự liên lạc giữa các bộ phận trong cơ quan thống trị đó trên căn bản nào để có thể điều hoà sự hoạt động của các bộ phận này, nói rộng ra, sự hoạt động chung của toàn thể cơ quan thống trị của bộ máy chính quyền.
- Loại vấn đề liên quan đến sự hạn chế quyền hành của cơ quan nắm quyền thống trị. [20, tr 55] Hiện nay trên thế giới có hai loại chính thể cơ bản đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Tương ứng với mỗi chính thể đó lại được chia thành các chính thể như : chính thể cộng hoà tổng thống, chính thể cộng hoà đại nghị, chính thể quân chủ lập hiến, chính thể quân chủ chuyên chế… Khi xác định chính thể, người ta thường dựa vào cách thức thành lập ra nguyên thủ quốc gia, và nhiệm vụ quyền hạn của nguyên thủ quốc gia. Rồi sau đó đến cách thức tổ chức, vai trò và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước khác, mà chủ yếu là của các cơ quan Lập pháp và Hành pháp.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CHÍNH THỂ ĐẠI NGHỊ.1 Chính thể Đại Nghị trong lý thuyết phân quyền Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước bao gồm: quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều nằm trong tay một Quân vương.
Xét về hình thức, nhà nước đó là nhà nước quân chủ chuyên chế. Quyền lực của nhà nước là vô hạn. Cách tổ chức ấy tất yếu dẫn đến sự lạm quyền và tuỳ tiện.Mác có nhận xét rất xác đáng về chế độ đó: “sự tuỳ tiện là quyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tuỳ tiện” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để chống lại chế độ chuyên chế, độc đoán đó, ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện tư tưởng phân quyền ở những mức độ khác nhau. Đại diện điển hình của các tư tưởng đó là Platon (427 – 347 tr.CN) và Aristôt (384 – 322 tr.
Platon cho rằng nguyên tắc cơ bản của “ xã hội lý tưởng” là sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau. Từ đó ông cho rằng phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết. Còn Aristôt quan niệm, hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức quyền lực chính trị. Theo ông, nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phận độc lập: Cơ quan làm luật, Cơ quan hành chính, Cơ quan xét xử.
Trong đó cơ quan làm luật giữa vai trò, vị trí chủ đạo. Ông cho rằng: luật thống trị tất cả, các cơ quan hành chính không có quyền đó mà chỉ cụ thể hoá luật và thực thi pháp luật. Tuy học thuyết của Aristôt chưa đưa ra được những dấu hiệu cơ bản như học thuyết phân chia quyền lực hiện nay, mà chỉ là sự phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận của bộ máy Nhà nước. Nhưng tư tưởng của ông đã đặt nền móng cho tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước sau này.
Các học giả tư sản thừa kế tư tưởng phân quyền thời cổ đại và phát triển thành học thuyết “Phân chia quyền lực”. Vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI – XVII, đại diện là F.Locke và đỉnh cao là S. Jonh Locke (1632-1704) nhà tư tưởng người Anh đã kế tục và phát triển tư tưởng của Aristôt. Ông cho rằng, để đảm bảo quyền các quyền tự do cơ bản của con người, cần phải hạn chế quyền lực chính trị theo nguyên tắc phân chia quyền lực, tách quyền hành pháp ra khỏi lập pháp và quyền lực liên bang (trong tác phẩm “ Hai chuyên luận về chính quyền”, xuất bản năm 1697).
Quyền lập pháp do Nghị viện, cơ quan đại diện của nhân dân thực hiện. Quyền hành pháp và Quyền liên bang thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng và các quan chức khác, tuyên bố chiến tranh. Về tương quan giữa ba quyền thì Locke cho rằng quyền lập pháp phải là tối cao, nó phải được duy trì mãi mãi và độc lập với các ngành quyền kia.
Ông viết “ Ai có thể đề ra luật lệ cho người khác thì phải được đặt cao hơn. Chính quyền lập pháp có quyền đề ra pháp luật cho tất cả mọi bộ phận và thành viên trong xã hội. Quy định cho họ các quy tắc hành vi và đủ sức trừng trị khi pháp luật bị vi phạm. Cho nên chính quyền lập pháp phải là tối cao và các ngành quyền khác, với tư cách là thành viên hoặc bộ phận đều bắt nguồn từ đó và phụ thuộc vào nó”.
Locke đã muốn trao từng bộ phân quyền lực cho những lực lượng chính trị xã hội là tư sản và quý tộc phong kiến. Theo ông, trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưng không tuyệt đối, vì mọi quyền lực tối cao còn lại là thuộc về nhân dân, là người có thể giải tán hay thay đổi thành phần cơ quan lập pháp. Khi mà hoạt động của nó không còn bảo đảm tín nhiệm với nhân dân. Lý thuyết “phân chia quyền lực của Locke đã soi sáng cho cả một thế hệ các triết gia của kỷ nguyên khai sáng ở Châu âu và Tân thế giới – từ Jean Jacque Rousseau ở Pháp đến David Hume ở Tô Cách Lan, Immamel Kant ở Đức và Thomas Jefferson, Benjamin Franklin ở Hoa Kỳ.
Những người đầu tiên theo gót ông có lẽ là Montesquieu. Trong quyển L’ce L’esprit des Lois (tinh thần pháp luật), phát hành năm 1748, Montesquieu chủ trương phân chia và cân bằng quyền hành giữa các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp trong chính quyền như một phương thức để đảm bảo quyền tự do cá nhân. Học thuyết này đã giúp cho sự hình thành của một nền tảng triết lý của chế độ Đại nghị với sự phân chia quyền hành giữa nghị viện, hành pháp và tư pháp. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Montesquieu để loại trừ khả năng quyền lực nằm trong tay một người hay một tổ chức tất yếu dẫn đến lạm quyền, cần thiết lập một trật tự trong đó có quyền lực Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải độc lập.
Quyền Lập pháp được chia giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến vì thế nghị viện có hai viện là Thượng viện đại diện cho qúy tộc và Hạ viện đại diện cho nhân dân. Quyền hành pháp thuộc qúy tộc và thành lập Chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân trước giai cấp tư sản. Đây cũng là một điểm đặc trưng của chế độ Đại nghị. Khác với Locke, Montesquieu coi Tư pháp là quyền độc lập nhưng không trao cho cơ quan thường trực nào, mà cho cơ quan do nhân dân bầu theo định kỳ.
Như vậy tư tưởng phân quyền mà J.