Luận Văn Thạc Sĩ: Sự Biến Dạng Của Chính Thể Đại Nghị

Khám phá sự biến dạng của chính thể đại nghị trong luận văn thạc sĩ VNU LS, phân tích các yếu tố và tác động đến hệ thống chính trị.

Chuyên ngành

Luật Hiến Pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2005

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình nghiên cứu

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ

1.1. Khái niệm chính thể

1.2. Hoàn cảnh ra đời của chính thể Đại nghị

1.2.1. Chính thể Đại Nghị trong lý thuyết phân quyền

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHÍNH THỂ ĐẠI NGHỊ

2.1. Nghị viện cơ quan đại diện cho nhân dân có quyền lực tối cao

2.1.1. Tính tối cao của Nghị viện được quy định trong Hiến Pháp

2.1.2. Tính tối cao của Nghị viện trong lĩnh vực lập pháp

2.1.3. Tính tối cao của Nghị viện trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh

2.1.4. Tính tối cao của Nghị viện trong lĩnh vực tham gia thành lập cơ quan nhà nước

2.1.5. Tính tối cao của Nghị viện thể hiện trong chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các quan chức nhà nước

2.1.6. Tính tối cao của Nghị viện thể hiện trong lĩnh vực Tư Pháp

2.2. Chính thể Đại Nghị - Nơi Chính phủ được hình thành trên cơ sở Nghị viện và chịu trách nhiệm trước Nghị viện

2.2.1. Chính thể Đại nghị - Chế định Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện

2.2.2. Nguyên thủ Quốc gia thực hiện chức năng hành pháp tượng trưng

2.2.2.1. Địa vị pháp lý của Nguyên thủ quốc gia được quy định trong Hiến Pháp
2.2.2.2. Địa vị thực tế của Nguyên thủ quốc gia trong chính thể Đại Nghị

2.2.3. Chính thể Đại nghị nơi thiếu hẳn sự có mặt của một yếu tố trong lý thuyết phân quyền (Chế định kiểm soát và quân bình quyền lực)

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG CỦA SỰ BIẾN DẠNG

3.1. Khái niệm sự biến dạng

3.2. Nội dung của sự biến dạng

3.2.1. Tính tối cao của Quốc hội đã bị thay thế bởi lợi thế áp đảo của Chính phủ. Thẩm quyền của Nghị viện trong lĩnh vực Lập Pháp đã bị hợp lý hoá. Thẩm quyền của Nghị viện trong lĩnh vực ngân sách và tài chính đã bị Chính phủ chi phối

3.2.2. Chính Phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội nhưng thực tế chính phủ lại quay lại gây ảnh hưởng, chỉ huy Quốc hội

3.2.2.1. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện là một nguyên tắc của chính thể Đại nghị
3.2.2.2. Chế định chịu trách nhiệm của Chính phủ trên thực tế. Vấn đề tín nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện đã không còn mà thay vào đó là vấn đề tín nhiệm của Chính phủ trước Đảng cầm quyền. Sự phân chia quyền lực nhà nước giữa Lập Pháp và Hành pháp theo quy định của Hiến Pháp đã không còn nữa

3.2.3. Nguyên thủ Quốc gia là người bổ nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ nhưng không thể bổ nhiệm ai khác ngoài Thủ lĩnh của Đảng cầm quyền

3.2.4. Nguyên thủ Quốc gia không có thực quyền như theo quy định của Hiến pháp

3.2.5. Chức năng giám sát của Nghị viện đối với Chính phủ trên thực tế là việc giám sát của Đảng đối lập

3.3. Nguyên nhân của sự biến dạng

3.3.1. Chế độ sinh hoạt Đảng phái chính trị trong Nghị viện - Nguyên nhân quan trọng nhất của sự biến dạng

3.3.2. Quy luật chung của các loại chính thể là phải có một ngành Hành Pháp mạnh, là trung tâm của bộ máy nhà nước

Danh mục Tài Liệu Tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Biến Dạng Chính Thể Đại Nghị Khái Niệm và Đặc Điểm

Chính thể Đại nghị là một trong những mô hình tổ chức nhà nước phổ biến hiện nay. Nó được hình thành từ những lý thuyết phân quyền và có những đặc điểm riêng biệt. Chính thể này thường được đặc trưng bởi sự phân chia quyền lực giữa các nhánh của chính phủ, trong đó Nghị viện đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, sự biến dạng của chính thể này đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Khái Niệm Chính Thể Đại Nghị Đặc Điểm và Vai Trò

Chính thể Đại nghị được định nghĩa là mô hình tổ chức nhà nước, trong đó quyền lực được phân chia giữa các nhánh khác nhau. Nghị viện là cơ quan đại diện cho nhân dân, có quyền lập pháp tối cao. Tuy nhiên, sự biến dạng của chính thể này có thể dẫn đến việc Nghị viện mất đi quyền lực thực sự, bị chi phối bởi Chính phủ.

1.2. Hoàn Cảnh Ra Đời Của Chính Thể Đại Nghị

Chính thể Đại nghị ra đời trong bối cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh sự phát triển của tư tưởng phân quyền. Các nhà tư tưởng như Locke và Montesquieu đã đóng góp vào việc hình thành lý thuyết này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân chia quyền lực để ngăn chặn sự lạm quyền.

II. Vấn Đề Biến Dạng Chính Thể Đại Nghị Thách Thức và Nguyên Nhân

Sự biến dạng của chính thể Đại nghị đang trở thành một thách thức lớn trong việc duy trì quyền lực của Nghị viện. Các yếu tố như sự chi phối của Chính phủ và sự thiếu vắng của các cơ chế kiểm soát đã dẫn đến tình trạng này. Việc phân tích nguyên nhân của sự biến dạng là cần thiết để tìm ra giải pháp khắc phục.

2.1. Nguyên Nhân Chính Dẫn Đến Biến Dạng

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến dạng của chính thể Đại nghị là sự chi phối của các đảng phái chính trị. Khi Chính phủ có quyền lực quá lớn, Nghị viện có thể trở nên yếu kém và không còn khả năng giám sát hiệu quả.

2.2. Tác Động Của Biến Dạng Đến Chính Thể Đại Nghị

Sự biến dạng này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lực của Nghị viện mà còn tác động đến sự ổn định của hệ thống chính trị. Khi Nghị viện không còn là cơ quan đại diện cho nhân dân, niềm tin của công chúng vào hệ thống chính trị sẽ giảm sút.

III. Phương Pháp Phân Tích Biến Dạng Chính Thể Đại Nghị Cách Tiếp Cận và Giải Pháp

Để phân tích sự biến dạng của chính thể Đại nghị, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội. Việc so sánh các mô hình chính thể khác nhau có thể giúp hiểu rõ hơn về quy luật phát triển của chính thể này. Đồng thời, cần tìm ra các giải pháp để khôi phục quyền lực cho Nghị viện.

3.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử và So Sánh

Phương pháp lịch sử và so sánh giúp phân tích sự phát triển của chính thể Đại nghị qua các thời kỳ. Việc so sánh với các mô hình chính thể khác cũng giúp nhận diện những điểm mạnh và yếu của chính thể này.

3.2. Giải Pháp Khôi Phục Quyền Lực Cho Nghị Viện

Để khôi phục quyền lực cho Nghị viện, cần thiết lập các cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các nhánh của chính phủ. Điều này có thể bao gồm việc cải cách luật pháp và tăng cường sự tham gia của công dân trong quá trình ra quyết định.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Biến Dạng Chính Thể Đại Nghị Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về sự biến dạng của chính thể Đại nghị không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải cách hệ thống chính trị, nhằm đảm bảo quyền lực của Nghị viện và sự tham gia của công dân.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Biến Dạng Chính Thể

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự biến dạng của chính thể Đại nghị đã dẫn đến sự suy giảm quyền lực của Nghị viện. Điều này cần được khắc phục thông qua các biện pháp cải cách cụ thể.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Trong Thực Tiễn

Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh hơn, nơi Nghị viện thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân và có khả năng giám sát Chính phủ hiệu quả.

V. Kết Luận Tương Lai Của Chính Thể Đại Nghị Trong Bối Cảnh Hiện Đại

Tương lai của chính thể Đại nghị phụ thuộc vào khả năng khôi phục quyền lực cho Nghị viện và đảm bảo sự tham gia của công dân. Việc nghiên cứu và phân tích sự biến dạng của chính thể này là cần thiết để tìm ra các giải pháp phù hợp cho sự phát triển bền vững của hệ thống chính trị.

5.1. Tương Lai Của Chính Thể Đại Nghị

Chính thể Đại nghị có thể phát triển mạnh mẽ nếu được cải cách đúng hướng. Sự tham gia của công dân và các cơ chế kiểm soát sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công của chính thể này.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cho Tương Lai

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của chính thể Đại nghị, cần thiết lập các cơ chế pháp lý và chính trị phù hợp, nhằm khôi phục quyền lực cho Nghị viện và tăng cường sự tham gia của công dân trong quá trình ra quyết định.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI NIỆM, HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ 1. KHÁI NIỆM CHÍNH THỂ Chủ nghĩa Mác về Duy vật lịch sử phân tích lịch sử hình thành và phát triển xã hội loài người thành năm hình thái kinh tế -xã hội, nhưng chỉ có bốn hình thái có nhà nước: chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản và chế độ xã hội chủ nghĩa, ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội này là một kiểu nhà nước. Phù hợp với mỗi một kiểu nhà nước là một bản chất nhà nước, hay nói cách khác mỗi kiểu nhà nước lại có bản chất nhà nước riêng. Bản chất nhà nước có thể là một nhưng hình thức nhà nước thể hiện bản chất thì rất đa dạng phụ thuộc vào từng hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể, đặc điểm dân tộc khác nhau.

Cùng là nhà nước thể hiện bản chất Tư sản, nhưng hình thức tổ chức lại rất khác nhau. Quy định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cũng là quy định hình thức nhà nước. “Chính thể trong khoa học luật Hiến pháp được gọi là mô hình tổ chức. Hay nói một cách khác, chính thể phải dựng ra một bộ xương cho cơ thể nhà nước.

Đây là vấn đề quan trọng, góp phần tạo nên cơ sở của mọi hoạt động nhà nước sau này. Vì vậy chính thể là vấn đề cơ bản nhất của mỗi bản Hiến 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp, đạo luật cơ bản nhất của nhà nước. Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mỗi một bản Hiến văn là phải lực chọn cho nhà nước một mô hình tổ chức cơ cấu thích hợp.” [17, tr 71] Hình thức chính thể là mô hình tổ chức hoạt động của nhà nước được phân tích dưới giác độ tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực ( Chủ yếu là Hành pháp và Lập pháp) với nhau và giữa cơ quan nhà nước trung ương với nhân dân. Qua đó cho chúng ta thấy được quyền lực nhà nước do ai thống trị và thống trị như thế nào, quyền lực nhà nước được tổ chức tập trung hay phân tán … Hay cụ thể hơn hình thức chính thể chính là cách phân tích nhà nước thành các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng khác nhau: cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, cơ quan thực hiện chức năng lập pháp và các cơ quan thực hiện chức năng xét xử.

Các hoạt động của nhà nước được phân tích thành ba quyền: quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp. Tóm lại theo PGS, TS Nguyễn Đăng Dung thì chính thể được định nghĩa như sau :“ Chính thể là xét mô hình tổ chức nhà nước dưới giác độ cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các cơ qua cấu thành nên bộ máy nhà nước. Trước hết là mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của quốc gia với nhân dân.” [20, tr 56] Cũng theo PGS, TS Nguyễn Đăng Dung thì việc định nghĩa trên để giải quyết bốn vấn đề chính liên quan đến cách tổ chức chính trị của mỗi quốc gia đó là: - Loại vấn đề liên quan đến căn bản triết lý hay tinh thần của chế độ: Tại sao quyền chủ thể trong một quốc gia lại được trao cho một người hay một nhóm người mà thôi? Tại sao nhân dân trong nước lại phục ting người đó? 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Loại vấn đề liên quan đến việc lựa chọn nhà cầm quyền, do phương pháp chỉ định, hay phương pháp bầu cử, bắt thăm hay suy cử… - Loại vấn đề liên quan đến cách tổ chức cơ quan năm quyền thống trị. Vì cơ quan thống trị gồm nhiều bộ phận khác nhau, nên vần đề đặt ra cần phải đặt sự liên lạc giữa các bộ phận trong cơ quan thống trị đó trên căn bản nào để có thể điều hoà sự hoạt động của các bộ phận này, nói rộng ra, sự hoạt động chung của toàn thể cơ quan thống trị của bộ máy chính quyền.

- Loại vấn đề liên quan đến sự hạn chế quyền hành của cơ quan nắm quyền thống trị. [20, tr 55] Hiện nay trên thế giới có hai loại chính thể cơ bản đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Tương ứng với mỗi chính thể đó lại được chia thành các chính thể như : chính thể cộng hoà tổng thống, chính thể cộng hoà đại nghị, chính thể quân chủ lập hiến, chính thể quân chủ chuyên chế… Khi xác định chính thể, người ta thường dựa vào cách thức thành lập ra nguyên thủ quốc gia, và nhiệm vụ quyền hạn của nguyên thủ quốc gia. Rồi sau đó đến cách thức tổ chức, vai trò và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước khác, mà chủ yếu là của các cơ quan Lập pháp và Hành pháp.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CHÍNH THỂ ĐẠI NGHỊ.1 Chính thể Đại Nghị trong lý thuyết phân quyền Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước bao gồm: quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều nằm trong tay một Quân vương.

Xét về hình thức, nhà nước đó là nhà nước quân chủ chuyên chế. Quyền lực của nhà nước là vô hạn. Cách tổ chức ấy tất yếu dẫn đến sự lạm quyền và tuỳ tiện.Mác có nhận xét rất xác đáng về chế độ đó: “sự tuỳ tiện là quyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tuỳ tiện” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để chống lại chế độ chuyên chế, độc đoán đó, ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện tư tưởng phân quyền ở những mức độ khác nhau. Đại diện điển hình của các tư tưởng đó là Platon (427 – 347 tr.CN) và Aristôt (384 – 322 tr.

Platon cho rằng nguyên tắc cơ bản của “ xã hội lý tưởng” là sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau. Từ đó ông cho rằng phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết. Còn Aristôt quan niệm, hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức quyền lực chính trị. Theo ông, nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phận độc lập: Cơ quan làm luật, Cơ quan hành chính, Cơ quan xét xử.

Trong đó cơ quan làm luật giữa vai trò, vị trí chủ đạo. Ông cho rằng: luật thống trị tất cả, các cơ quan hành chính không có quyền đó mà chỉ cụ thể hoá luật và thực thi pháp luật. Tuy học thuyết của Aristôt chưa đưa ra được những dấu hiệu cơ bản như học thuyết phân chia quyền lực hiện nay, mà chỉ là sự phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận của bộ máy Nhà nước. Nhưng tư tưởng của ông đã đặt nền móng cho tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước sau này.

Các học giả tư sản thừa kế tư tưởng phân quyền thời cổ đại và phát triển thành học thuyết “Phân chia quyền lực”. Vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI – XVII, đại diện là F.Locke và đỉnh cao là S. Jonh Locke (1632-1704) nhà tư tưởng người Anh đã kế tục và phát triển tư tưởng của Aristôt. Ông cho rằng, để đảm bảo quyền các quyền tự do cơ bản của con người, cần phải hạn chế quyền lực chính trị theo nguyên tắc phân chia quyền lực, tách quyền hành pháp ra khỏi lập pháp và quyền lực liên bang (trong tác phẩm “ Hai chuyên luận về chính quyền”, xuất bản năm 1697).

Quyền lập pháp do Nghị viện, cơ quan đại diện của nhân dân thực hiện. Quyền hành pháp và Quyền liên bang thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng và các quan chức khác, tuyên bố chiến tranh. Về tương quan giữa ba quyền thì Locke cho rằng quyền lập pháp phải là tối cao, nó phải được duy trì mãi mãi và độc lập với các ngành quyền kia.

Ông viết “ Ai có thể đề ra luật lệ cho người khác thì phải được đặt cao hơn. Chính quyền lập pháp có quyền đề ra pháp luật cho tất cả mọi bộ phận và thành viên trong xã hội. Quy định cho họ các quy tắc hành vi và đủ sức trừng trị khi pháp luật bị vi phạm. Cho nên chính quyền lập pháp phải là tối cao và các ngành quyền khác, với tư cách là thành viên hoặc bộ phận đều bắt nguồn từ đó và phụ thuộc vào nó”.

Locke đã muốn trao từng bộ phân quyền lực cho những lực lượng chính trị xã hội là tư sản và quý tộc phong kiến. Theo ông, trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưng không tuyệt đối, vì mọi quyền lực tối cao còn lại là thuộc về nhân dân, là người có thể giải tán hay thay đổi thành phần cơ quan lập pháp. Khi mà hoạt động của nó không còn bảo đảm tín nhiệm với nhân dân. Lý thuyết “phân chia quyền lực của Locke đã soi sáng cho cả một thế hệ các triết gia của kỷ nguyên khai sáng ở Châu âu và Tân thế giới – từ Jean Jacque Rousseau ở Pháp đến David Hume ở Tô Cách Lan, Immamel Kant ở Đức và Thomas Jefferson, Benjamin Franklin ở Hoa Kỳ.

Những người đầu tiên theo gót ông có lẽ là Montesquieu. Trong quyển L’ce L’esprit des Lois (tinh thần pháp luật), phát hành năm 1748, Montesquieu chủ trương phân chia và cân bằng quyền hành giữa các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp trong chính quyền như một phương thức để đảm bảo quyền tự do cá nhân. Học thuyết này đã giúp cho sự hình thành của một nền tảng triết lý của chế độ Đại nghị với sự phân chia quyền hành giữa nghị viện, hành pháp và tư pháp. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Montesquieu để loại trừ khả năng quyền lực nằm trong tay một người hay một tổ chức tất yếu dẫn đến lạm quyền, cần thiết lập một trật tự trong đó có quyền lực Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải độc lập.

Quyền Lập pháp được chia giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến vì thế nghị viện có hai viện là Thượng viện đại diện cho qúy tộc và Hạ viện đại diện cho nhân dân. Quyền hành pháp thuộc qúy tộc và thành lập Chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân trước giai cấp tư sản. Đây cũng là một điểm đặc trưng của chế độ Đại nghị. Khác với Locke, Montesquieu coi Tư pháp là quyền độc lập nhưng không trao cho cơ quan thường trực nào, mà cho cơ quan do nhân dân bầu theo định kỳ.

Như vậy tư tưởng phân quyền mà J.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ