CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI 1. Một số vấn đề lí luận về quyền nhân thân 1. Khái niệm quyền nhân thân Hiện nay, trong toàn bộ những vấn đề của loài người thì quyền con người và quyền công dân là hai trong những vấn đề có lịch sử lâu đời cả về thực tiễn và lý luận. Quyền con người và quyền công dân gắn liền và là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, bên cạnh đó nó cũng phản ánh quá trình đấu tranh tự giải phóng mình của nhân loại.
Chính vì vậy chúng luôn là mối quan tâm của toàn nhân loại trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau: Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc:“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người”5. Như vậy có thể hiểu rằng quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Không chỉ dừng lại ở đó, quyền con người được ghi nhận trong Từ điển thuật ngữ chính trị (Lexique de politique) như sau:“ Quyền con người là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất cơ bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành”6.
Hiện nay, ở Việt Nam xuất hiện thêm thuật ngữ “nhân quyền” dẫn đến việc nhiều người đặt ra câu hỏi rằng “Vậy nhân quyền có giống quyền con người không?”. Thực chất cả hai khái niệm trên đều bắt nguồn từ một khái niệm trong tiếng anh được gọi là “human rights 7”. Chính quá trình dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã làm xuất hiện nhiều cách gọi khác nhau nhưng về bản chất cách nói “quyền con người” là theo tiếng anh; còn “nhân quyền” là dịch theo tiếng Hán. Quyền con người không những được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp lý (legal right).
Theo đó Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2018 đã định nghĩa về quyền con người giống như với khái niệm của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đưa ra. Ngược dòng thời gian về thời kỳ cổ đại thì quyền con người cũng đã được nhắc đến trong bộ luật cổ Hammurabi. Đến thời kỳ trung đại có Hiến chương Magna của người Anh lần đầu 5 Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 6 Từ điển thuật ngữ chính trị 7 The basic rights that it is generally considered all people should have, such as justice and the freedom to say what you think 14 được công bố năm 1215 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền- được coi là văn bản nền tảng của cách mạng Pháp.
Thời kỳ hiện đại trên thế giới có các văn bản sau quy định về quyền con người như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 tại Pháp và Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012. Chính vì được quy định trong rất nhiều các văn bản pháp lý có giá trị cao nên các giá trị quyền nhân thân luôn được quy định một cách rõ ràng và chủ yếu gồm ba nhóm quyền lớn sau:Quyền dân sự; Quyền chính trị; Quyền Kinh tế; Xã hội và Văn hóa Thứ hai là quyền công dân. Khái niệm công dân8 dùng để phân biệt công dân của một nhà nước với công dân của nước khác và với người không phải là công dân của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Công dân của quốc gia nào thì được hưởng quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ mà quốc gia đó quy định.
Như vậy, chúng ta có thể thấy quyền công dân là những quyền của công dân được nhà nước quy định trong Hiến pháp. Những quyền này được Hiến pháp quy định cho mọi người dân hoặc cho cả một tầng lớp và giai cấp, chứ không quy định cho từng người trong hoàn cảnh cụ thể. Với định nghĩa như vậy, chúng ta có thể thấy rõ một số đặc điểm bản chất của quyền công dân như sau: quyền công dân xuất hiện sau quyền con người, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn quyền con người (về phạm vi áp dụng thì quyền con người được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, còn quyền công dân chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà công dân đó sinh sống), tuy nhiên trong một số trường hợp quyền công dân ở một số quốc gia có nội hàm rộng hơn quyền con người (ví như một số quốc gia như Mỹ cho phép công dân của mình dùng súng trong phạm vi lãnh thổ đất nước đó). Về mặt khái quát, quyền công dân bao gồm các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và các quyền tự do cá nhân.
Cũng xuất phát từ bản chất là một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự của cá nhân, quyền nhân thân là quyền của cá nhân đối với các giá trị nhân thân của mình được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; cũng giống như quyền công dân, luật pháp các quốc gia khác nhau sẽ bảo hộ cho những giá trị nhân thân khác nhau. Xuất phát từ định nghĩa trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ tương quan giữa các khái niệm quyền con người, quyền công dân và quyền nhân thân. Theo đó, quyền con người được ghi nhận là một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm: “ Tất cả mọi người trên thế giới đều có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc). Bên cạnh đó, quyền công dân là một nội hàm nằm trong quyền con người, bởi chính bản 8 http://luatviet.co/khai-niem-co-ban-ve-quyen-con-nguoi-va-quyen-cua-cong-dan/n20170524045758410.html 15 thân nó thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước.
Còn quyền dân sự thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, bao gồm các quyền tự do dân sự và các quyền của cá nhân- một trong những biểu hiện của quyền nhân thân. Tóm lại chúng ta có thể khái quát lên rằng quyền nhân thân là một trong nội hàm thuộc quyền dân sự của công dân; quyền công dân lại nằm trong quyền con người Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng có thể tiếp cận quyền nhân thân dưới nhiều góc độ khác nhau. Chính vì vậy, chúng tôi đã tổng hợp một số quan điểm sau mà các nhà nghiên cứu, các nhà luật học đã khái quát bao gồm: + Quan điểm thứ 1 cho rằng chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được xem là quyền nhân thân, còn những giá trị nhân thân không được ghi nhận thì sẽ không được xem là quyền nhân thân. Quan điểm này có một hạn chế đó là chưa xác định được quyền nhân thân chính là quyền dân sự.
Mặt khác, với cách nhìn nhận rằng chỉ có những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân, định nghĩa này đã vô hình chung thu hẹp phạm vi quyền nhân thân của con người + Quan điểm thứ 2 lại cho rằng quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và các cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác. So với quan điểm trên, quan điểm này được xem là đầy đủ và toàn diện hơn khi nêu được các thuộc tính của quyền nhân thân như: là quyền dân sự, gắn liền với cá nhân, được nhà nước quy định và không thể chuyển giao, đồng thời, khắc phục được hạn chế mà quan điểm thứ nhất mắc phải.9 Nhận thấy được sự đúng đắn, toàn diện khi nói về quyền nhân thân của quan điểm thứ hai, kết hợp với khái niệm quyền nhân thân được nêu ra trong Bộ luật dân sự 2015, nhóm chúng tôi đã khái quát lên được khái niệm như sau: “ Quyền nhân thân là một quyền dân sự do Nhà nước quy định cho cá nhân,luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể dịch chuyển sang cho các chủ thể khác. Quyền nhân thân của cá nhân luôn được bình đẳng, bất kỳ cá nhân nào có hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác có thể sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Đặc điểm quyền nhân thân Do đề tài nghiên cứu của chúng tôi giới hạn là “Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trên môi trường mạng xã hội theo BLDS 2015” nên chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu về quyền nhân thân của cá nhân dưới góc độ Luật Dân sự Việt Nam.
Kết hợp với 9 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-nhan-than-cua-ca-nhan-trong-phap-luat-dan-su-2 16 định nghĩa đã được nêu ra ở mục 1. chúng ta có thể nhận diện quyền nhân thân qua những dấu hiệu sau: Thứ nhất, quyền nhân thân là một quyền dân sự do Nhà nước quy định cho cá nhân. Xuất phát từ bản chất quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể được định đoạt và không thể chuyển giao cho người khác. Tính do nhà nước quy định cho cá nhân này như là để tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận.
Việc nhà nước quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau là dựa vào các điều kiện kinh tế- xã hội. Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định khác nhau. Bên cạnh đó để đảm bảo cho việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của cá nhân, nhà nước cũng quy định không cho phép cá nhân tự định đoạt, hạn chế quyền nhân thân của mình cũng như quyền nhân thân của người khác. Nếu những cá nhân nào có hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của bản thân và chủ thể khác trong xã hội sẽ phải chịu những khung hình phạt tương xứng mà nhà nước quy định.
Thứ hai, quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể dịch chuyển sang cho các chủ thể khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan có quy định khác Ví dụ như sức khỏe là một giá trị nhân thân của cá nhân, sức khỏe của mỗi cá nhân luôn gắn liền với cá nhân đó và với nguyên tắc không thể chuyển giao cho người khác.