Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại bằng biện pháp bảo lãnh. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại bằng biện pháp bảo lãnh ở Việt Nam. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại bằng biện pháp bảo lãnh ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA CHỦ NỢ TRONG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI BẰNG BIỆN PHÁP BẢO LÃNH 1.
Khái niệm, đặc điểm nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm nợ xấu của ngân hàng thương mại Không phải tất cả mọi khoản nợ của ngân hàng thương mại đều là nợ xấu. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận” [16]. Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ.
Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới. Theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa là khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 được quy định cụ thể tại Thông tư. Rõ ràng, một khoản nợ với giá trị càng cao, bị trễ hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ càng dài (tuổi nợ càng lớn) thì rủi ro không thu hồi được khoản nợ của ngân hàng càng lớn. Mỗi khoản nợ có những đặc điểm, biểu hiện ở nhiều cấp độ, tính chất khác nhau, nên theo đó sự tác động đến hoạt động ngân hàng cũng có nhiều cấp độ.
Vì vậy, việc phân loại nợ là hết sức cần thiết và cũng từ đó để có các chính sách tương ứng trong công tác phòng và xử lý tương ứng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các khoản nợ. Đặc biệt, nhận diện các khoản nợ xấu để có phương án kịp thời xử lý, giảm thiểu tối đa các tiêu cực ảnh hưởng đến hoạt động ổn định của các ngân hàng thương mại. Việc phân loại thành các nhóm nợ còn nhằm để áp dụng các biện pháp cần thiết trong quản lý và trích lập dự phòng. Đây cũng là một biện pháp phòng ngừa đảm bảo an toàn tín dụng và sẵn sàng xử lý rủi ro hiệu quả.
Nợ được phân loại dựa trên cả phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Điều này thể hiện nguyên tắc thận trọng trong trích lập dự phòng rủi ro cho ngân hàng thông qua kết quả phân loại thống nhất từ Trung tâm CIC (Trung tâm thông tin tín dụng). Theo phương pháp định lượng, nợ được phân loại theo số ngày quá hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ (tuổi nợ) nợ được phân thành 05 (năm) nhóm, bao gồm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Theo phương pháp định tính, nợ cũng được phân thành 05 (năm) nhóm. Theo phương pháp định tính thì tổ chức tín dụng dựa vào khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng để phân loại nợ.
Để thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính yêu cầu tổ chức tín dụng phải xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. 05 (năm) nhóm nợ theo phương pháp định tính bao gồm: • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao. • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo các cách phân nhóm nêu trên.
Tóm lại, nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, đã quá hạn trên 90 ngày và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của con nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã làm ăn thua lỗ liên tục, tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Đặc điểm nợ xấu của ngân hàng thương mại Nợ xấu của các ngân hàng thương mại có đặc điểm: Thứ nhất, nợ xấu của các ngân hàng thương mại chỉ phát sinh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Theo đó, nợ xấu chỉ được định nghĩa, xác định trong lĩnh vực ngân hàng.
Thông qua hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng thương mại trở thành chủ nợ đối với khách hàng vay, khi khoản vay này quá hạn đến mức dưới tiêu chuẩn thì trở thành nợ xấu. Nợ xấu, nợ trong quan hệ tín dụng nói chung có sự khác biệt với các khoản nợ dân sự thông thường. Nó phát sinh từ giao dịch với một bên chủ thể tham gia là tổ chức tín dụng và việc cho vay cũng có tính chất riêng vì đây là khoản cấp tín dụng, là một hoạt động đặc thù của các tổ chức tín dụng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, nợ xấu được phân loại thành các nhóm nợ (nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn).
Mỗi nhóm nợ thể hiện một tính chất và mức độ rủi ro riêng cho hoạt động của các ngân hàng thương mại. Nợ xấu được phân loại thành các nhóm nợ như đã đề cập ở phần trước, tuy nhiên, ta có thể tham khảo thêm một thông lệ quốc tế về phân loại nợ để có cái nhìn rõ hơn theo Bảng sau: Bảng 1.1: Bảng ma trận phân loại nợ theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) [25] Khả năng trả nợ Tốt Trung bình Xấu Tình hình tài chính Tốt Nợ đủ tiêu chuẩn Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn Tƣơng đối tốt Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Trung bình Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ có khả năng Dƣới trung bình Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ nghi ngờ mất vốn Nợ có khả năng Nợ có khả năng Nợ có khả năng Tồi mất vốn mất vốn mất vốn Căn cứ vào việc phân loại nợ, các ngân hàng thương mại sớm có những ứng phó và biện pháp xử lý thích hợp đồng thời tiến hành trích lập hai loại dự phòng rủi ro tín dụng, gồm dự phòng cụ thể (dự phòng đối với từng khoản nợ cụ thể) và dự phòng chung (cho các nhóm nợ). Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ: nợ nhóm 1: 0%, nợ nhóm 2: 5%, nợ nhóm 3: 20%, nợ nhóm 4: 50%, nợ nhóm 5: 100%. Mức trích lập dự phòng chung được xác định bằng 0.75% tổng số dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 [12].