đặt vấn đề bảo vệ quyền lợi của người vợ và con khi giải quyết các án kiện ly hôn trong bối cảnh này có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Ngày nay, khi pháp luật Việt Nam không còn sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong gia đình, việc bảo vệ con nhất là con chưa thành niên luôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có liên quan, đặc biệt là trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000. Nhưng khó khăn chủ yếu vẫn là việc thực hiện các quy định đó trên thực tế. Xuất phát từ đặc điểm về thể chất và tinh thần nên phụ nữ và trẻ em thường bị ảnh hưởng tiêu cực từ những cuộc li hôn.
Do đó, phải quan tâm bảo vệ quyền lợi của người vợ và con khi xét xử các án kiện ly hôn. Chỉ có giành quyền bình đẳng cho người phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên trong mối quan hệ gia đình mới có thể nói đến bảo vệ phụ nữ và trẻ em một cách thực sự. Trong các án kiện ly hôn, Nhà nước thông qua vai trò của cơ quan xét xử để bảo vệ quyền lợi của người vợ và con trên thực tế. Chỉ có Nhà nước mới đủ quyền lực để tạo điều kiện cho việc giải phóng phụ nữ, bảo vệ trẻ em.
Ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không chỉ là việc ghi nhận các quyền con người của phụ nữ, trẻ em mà còn bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện. "Đảm bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện" [52, tr. Với phụ nữ điều này càng có ý nghĩa sâu sắc khi quyền của phụ nữ trên thực tế thường bị xâm phạm. Người phụ nữ chịu sự phân biệt đối xử là tình trạng khá phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới.
Vì lẽ đó, việc ghi nhận các quyền con người của phụ nữ bằng pháp luật là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện, về điểm này, pháp luật giữ vai trò quyết định bởi sức mạnh từ tính cưỡng chế của nó. Với ý nghĩa đó, các quyền 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phụ nữ được thể chế hóa thành pháp luật phải được tuyên truyền phổ biến sâu rộng cho chính các chủ thể này để họ nhận thức được và trên cơ sở đó họ sẽ đủ hiểu biết giác ngộ về các quyền của mình và nâng cao ý thức tự bảo vệ các quyền mà pháp luật ghi nhận cho họ. Bên cạnh đó ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi của trẻ em bằng pháp luật khi cha mẹ ly hôn còn là cơ sở pháp lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cha mẹ.
Cha mẹ là người sinh thành ra các con, cho con sự sống, vì vậy cha mẹ cũng là người có trách nhiệm nuôi dưỡng con. Dù cuộc sống có khó khăn hay đầy đủ, cha mẹ có hạnh phúc hay không thể sống chung với nhau nữa thì cũng không được từ chối trách nhiệm của mình. Trong gia đình, việc cùng nhau chăm sóc, dạy dỗ con là niềm hạnh phúc của cha mẹ. Sự vất vả, bận rộn luôn được động viên bới ý nghĩa là để đem sự đầy đủ, niềm vui cho con.
Tuy nhiên, khi mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng kết tội cho nhau về sự tan vỡ của gia đình thì những kết quả của tình yêu đã chết đó cũng dễ rơi vào tình trạng bị bỏ rơi hoặc chỉ nhận được một nửa sự yêu thương. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em pháp luật đã quy định nuôi con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ. Nuôi con là một nghĩa vụ luật đình nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người làm cha, mẹ, đặc biệt khi họ đã ly hôn. Đó cũng là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho con khi người làm cha mẹ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Sự cụ thể hóa của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong trường hợp đặc biệt. Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được cả xã hội quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Cả xã hội đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện. Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách và nâng lên thành luật.
Rất nhiều quyền lợi của trẻ em được pháp luật bảo vệ như quyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi và phát triển toàn diện… Trẻ em có cha mẹ ly hôn là một đối tượng đặc biệt bởi vì so với những trẻ em khác thì chúng phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Do vậy, pháp luật đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho chúng. Và những quy định của Luật HN&GĐ về trách nhiệm của cha mẹ khi ly hôn và những quyền lợi của trẻ em chính là một sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ trẻ em trong trường hợp đặc biệt. Thể hiện tính chất công bằng, dân chủ, nhân đạo của pháp luật XHCN.
Qua phân tích về bản chất của ly hôn dưới chế độ XHCN, chúng ta thấy được sự tiến bộ của pháp luật XHCN. Việc quy định căn cứ ly hôn không liệt kê ra các trường hợp cụ thể tức là khi đã nhìn nhận toàn diện vấn đề và cảm thấy cuộc hôn nhân đó không thể cứu vãn thì Tòa án mới cho phép ly hôn. Quy định đó đã hạn chế được rất nhiều trường hợp gia đình tan vỡ khi vợ chồng dù có xung đột nhưng chưa đến mức trầm trọng và còn cứu vãn được. Vì vậy, số trẻ em phải chịu cảnh gia đình tan vỡ do những sai lầm nhất thời của cha mẹ cũng vì thể mà giảm đi.
Còn khi đã đủ căn cứ để ly hôn, việc duy trì một cuộc hôn nhân đã chết chỉ làm cho tình trạng gia đình càng trầm trọng thêm, và tất nhiên sẽ ảnh hưởng xấu đến con cái thì việc ly hôn của cha mẹ ở một khía cạnh nào đó cũng tốt hơn cho những đứa con. Quy định về giao con cho ai nuôi cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Việc giao con cho ai nuôi là vì lợi ích của con chứ không phải dựa vào lỗi của cha mẹ- căn cứ dẫn đến ly hôn trong pháp luật tư bản chủ nghĩa. Trong mọi trường hợp thì quyền lợi của con luôn được đặt lên hàng đầu, đã thể hiện được bản chất nhân đạo của pháp luật XHCN.
Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em Tư tưởng bảo vệ phụ nữ và trẻ em đã sớm xuất hiện trong lịch sử loài người, thể hiện rõ nhất là trong những hoàn cảnh đặc biệt như thiên tai, địch họa… Nhưng phải đến đầu thế kỷ XVIII tư tưởng bảo vệ phụ nữ và trẻ em mới được ghi nhận sâu rộng. Đầu tiên là trong bản Tuyên ngôn của Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy vậy, việc thực hiện sự bình đẳng nam nữ cũng như các quyền dân chủ khác không có cơ sở bảo đảm khi mà ngay cả trong pháp luật vẫn đặt người phụ nữ vào tình trạng 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bình đẳng với nam giới, đã giành đặc quyền cho nam giới, ví dụ về mặt hôn nhân hay về mặt quan hệ với con cái. Phê phán vấn đề này, Lênin nói: "Các nước cộng hòa dân chủ đều đã tuyên bố bình đẳng, nhưng trong dân luật, trong các đạo luật quy định quyền lợi của phụ nữ trong gia đình và quyền ly hôn của phụ nữ, thì ở nơi nào cũng ở vào địa vị bất bình đẳng, ở vào địa vị bị khinh miệt" [9].
Cùng với đại công nghiệp, công việc của phụ nữ ở xưởng làm họ không thể quan tâm tới con cái, không tránh khỏi làm tan rã các mối quan hệ gia đình và "những lời huyênh hoang của giai cấp tư sản về gia đình và giáo dục, về những mối liên hệ thân thiết gắn bó con cái và cha mẹ, lại càng trở nên ghê tởm" [9]. Mấy trăm năm qua, trong khi các nước tư bản đều yêu cầu phải xóa bỏ những đạo luật lỗi thời đòi nam nữ bình đẳng trước pháp luật, về gia đình và giáo dục. Nhưng chưa có một Nhà nước dân chủ nào ở Châu Âu, chưa có một Nhà nước nào trong đó số nước cộng hòa tiến bộ nhất lại có thể thực hiện được điều đó, vì ở đâu còn chủ nghĩa tư bản, còn chế độ tư hữu ruộng đất, chế độ tư hữu công xưởng nhà máy, ở đâu còn chính quyền của tư bản, thì ở đấy nam giới vẫn có đặc quyền [9]. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, bảo vệ phụ nữ và trẻ em đã trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Điều đó được thể hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia, sự tham gia các văn kiện quốc tế về phụ nữ và trẻ em, sự hợp tác quốc tế, các chương trình hành động quốc gia…bảo vệ phụ nữ và trẻ em trở thành cơ sở để đánh giá sự phát triển của đất nước, của tiến bộ xã hội. Bên cạnh đó, quyền phụ nữ và trẻ em là nội dung cơ bản của quyền con người. Vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ, trẻ em nói riêng đã được quy định trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân sự và chính trị (1966), Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW), Công ước ngày 29/01/1957 do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng nước ngoài…Nhắc riêng tới công ước CEDAW, đây là văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, đáp ứng được những yêu cầu khách quan trong việc bảo vệ các quyền con người của phụ nữ. Công ước đã có một hướng tiếp cận hoàn toàn mới, CEDAW bảo đảm sự bình đẳng cho người phụ nữ bằng cách chỉ ra những lĩnh vực cụ thể có sự phân biệt đối xử với phụ nữ như lĩnh vực HN&GĐ, dân sự…Đặc biệt, trong lĩnh vực HN&GĐ, do tác động của tôn giáo, phong tục, tập quán sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ diễn ra khá đậm nét và mang những sắc thái riêng.