Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh bùng nổ của kỷ nguyên số và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội tại Việt Nam với hơn 70 triệu người sử dụng internet, việc bảo đảm quyền con người ngày càng đối mặt với nhiều thách thức phức tạp. Thực tiễn cho thấy các vụ việc xâm phạm quyền cá nhân đối với hình ảnh đã gia tăng khoảng 35% trong giai đoạn 2015 đến 2020, xuất hiện tràn lan trên các trang báo điện tử, mạng xã hội và ấn phẩm quảng cáo. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quyền nhân thân đối với hình ảnh, đánh giá khoảng trống trong việc thực thi Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản liên quan.

Mục tiêu cụ thể của công trình gồm ba nội dung then chốt: thứ nhất, hệ thống hóa và hoàn thiện lý luận về quyền nhân thân và quyền hình ảnh; thứ hai, phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp bảo vệ dân sự, hành chính, hình sự từ các vụ việc thực tế; thứ ba, xác lập hệ thống luận cứ khoa học nhằm kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định Việt Nam từ Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005 đến 2015, kết hợp so sánh với chuẩn mực pháp lý quốc tế tại Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Pháp giai đoạn 2010 đến 2020. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao tỷ lệ giải quyết thành công các tranh chấp dân sự về quyền hình ảnh lên trên 80%, bảo vệ danh dự, nhân phẩm và giá trị tinh thần thiêng liêng của mỗi cá nhân trong đời sống xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Thuyết quyền nhân thân (Personality Rights Theory) và Thuyết quyền tài sản phái sinh (Right of Publicity Theory) theo trường phái luật học phương Tây để phân định bản chất kép của quyền hình ảnh. Bên cạnh đó, Mô hình cân bằng lợi ích tư pháp (Balancing of Interests Model) được áp dụng nhằm giải quyết xung đột giữa quyền riêng tư cá nhân với quyền tự do thông tin và lợi ích công cộng.

Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Quyền nhân thân: Quyền dân sự gắn liền với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao theo Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Quyền của cá nhân đối với hình ảnh: Quyền nhân thân cơ sở được pháp luật ghi nhận tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, trao cho cá nhân quyền kiểm soát việc ghi hình, sử dụng và công khai hình ảnh của mình.
  • Quyền đối với từng hình ảnh cụ thể: Quyền nhân thân phái sinh mang tính thương mại, phát sinh từ thỏa thuận cho phép khai thác hình ảnh trong các sản phẩm vật chất cụ thể.
  • Xâm phạm quyền hình ảnh: Hành vi tác động trái phép vào vật phẩm chứa đựng hình ảnh cá nhân khi chưa có sự đồng ý hoặc vi phạm các điều kiện luật định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 50 văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Báo chí năm 2016, Luật Trẻ em năm 2016 và các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính. Dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ 15 vụ việc tranh chấp và vi phạm điển hình diễn ra trên phạm vi toàn quốc.

Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 15 vụ việc xâm phạm quyền hình ảnh tiêu biểu, được tuyển chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling). Phương pháp này giúp đảm bảo tính bao quát trên 3 lĩnh vực trọng yếu: truyền thông báo chí chiếm 4 vụ việc, hoạt động quảng cáo thương mại chiếm 6 vụ việc và không gian mạng xã hội chiếm 5 vụ việc.

Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học với Điều 24 Luật Bản quyền Đức năm 1907 để chỉ rõ tính tương thích và khoảng trống pháp lý của Việt Nam. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong thời gian 20 tháng, từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 09 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, 100% các hành vi sử dụng hình ảnh không vì mục đích công cộng hoặc lợi ích quốc gia đều vi phạm khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 nếu không có sự đồng ý của đương sự. Trong đó, hành vi tự ý cắt ghép hình ảnh người nổi tiếng vào mục đích quảng cáo bán hàng chiếm khoảng 60% tổng số vụ việc được ghi nhận trên các nền tảng mạng xã hội.

Thứ hai, việc áp dụng chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định số 158/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo tự ý dùng ảnh cá nhân chưa đủ sức răn đe các đơn vị kinh doanh lớn. Điển hình như vụ việc Cục Xuất bản xử phạt 252.000.000 đồng đối với Nhà xuất bản Lao động - Xã hội năm 2014 do in hình ghép phản cảm của diễn viên lên bìa sách luật, cho thấy mức độ xử lý chỉ mang tính chất xử phạt hành chính cục bộ mà chưa bồi thường thỏa đáng thiệt hại nhân thân cho nạn nhân.

Thứ ba, thực tiễn áp dụng Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015 về biện pháp tự bảo vệ cho thấy hơn 70% nạn nhân chọn giải pháp im lặng hoặc yêu cầu gỡ bỏ hình ảnh mà không khởi kiện ra Tòa án. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc thời gian theo đuổi tố tụng kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm và chi phí giám định thiệt hại vượt quá khả năng tài chính của cá nhân.

Thứ tư, tình trạng lạm dụng lệnh truy nã và công khai hình ảnh gây tổn hại quyền con người nghiêm trọng, thể hiện qua vụ việc công dân mang lệnh truy nã kéo dài 16 năm từ năm 1999 đến năm 2016 dù điều khoản truy cứu tại Điều 259 Bộ luật Hình sự năm 1985 đã bị bãi bỏ từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.

Thảo luận kết quả

Thực trạng xâm phạm bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và các nghị định chuyên ngành, cùng nhận thức pháp luật hạn chế của cộng đồng mạng. Cơ chế bồi thường tổn thất tinh thần theo Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn mang tính định tính, khiến việc chứng minh thiệt hại thực tế gặp nhiều bế tắc.

So sánh với pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Điều 24 Luật Bản quyền Đức năm 1907 và Bộ luật Tố tụng hình sự Đức phân định rõ ranh giới giữa ảnh chụp toàn cảnh sự kiện công cộng và ảnh chụp cá nhân cận cảnh, đồng thời cho phép cơ quan chức năng công bố ảnh tìm nhân chứng một cách có kiểm soát. Tại Việt Nam, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn quá chung chung, dẫn đến nhiều cách giải thích tùy tiện khi tác nghiệp báo chí và truyền thông.

Toàn bộ dữ liệu thực trạng có thể được mô hình hóa qua Bảng phân loại hành vi vi phạm (gồm 4 nhóm: thương mại, bôi nhọ danh dự, báo chí xuất bản, mạng xã hội) và Biểu đồ tỷ lệ phản ứng pháp lý (70% tự hòa giải/bỏ qua, 20% yêu cầu xử phạt hành chính, 10% khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự). Điều này chứng minh rằng công tác bảo vệ quyền hình ảnh hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào sự chủ động của nạn nhân mà thiếu đi cơ chế can thiệp tự động từ cơ quan công quyền.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện chế định quyền hình ảnh tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 bằng việc bổ sung định nghĩa chi tiết về hình ảnh nhận dạng và tách bạch giữa quyền nhân thân gốc với quyền tài sản phái sinh, hướng tới mục tiêu giảm 50% thời gian thụ lý tranh chấp thương mại, hoàn thành trong giai đoạn 2026 đến 2028 dưới sự chủ trì của Quốc hội.
  • Nâng mức phạt tiền vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo và truyền thông mạng tại các nghị định xử phạt lên gấp 2 đến 3 lần mức hiện hành, dao động từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, thực hiện trước năm 2027 do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu.
  • Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhằm chuẩn hóa công thức định lượng mức bồi thường tổn thất tinh thần và thiệt hại kinh tế do khai thác hình ảnh trái phép, đạt mục tiêu 90% phán quyết bồi thường có căn cứ rõ ràng vào năm 2026.
  • Thiết lập quy trình rà soát và thu hồi tự động các quyết định công khai hình ảnh truy nã khi có sự thay đổi về chính sách hình sự, bảo đảm 100% hồ sơ truy nã được cập nhật đúng pháp luật từ năm 2027 dưới sự phối hợp của Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân các cấp: Cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp phân biệt quyền nhân thân cơ sở với quyền nhân thân phái sinh, hỗ trợ đắc lực trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Ứng dụng trực tiếp vào quá trình soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hình ảnh đại sứ thương hiệu, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ trước các hành vi quảng cáo mạo danh.
  • Cơ quan báo chí, nhà xuất bản và nhà sáng tạo nội dung số: Trang bị kiến thức về ranh giới pháp lý theo Luật Báo chí năm 2016, giúp hạn chế rủi ro vi phạm hành chính và tránh các vụ việc tranh chấp bản quyền hình ảnh.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Nguồn tư liệu chuyên khảo sâu sắc về quyền nhân thân trong Luật Dân sự Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu mở rộng về quyền con người trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

Câu hỏi thường gặp

Trường hợp nào được sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần xin phép? Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, có hai trường hợp ngoại lệ: sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; hoặc hình ảnh được chụp từ các hoạt động công cộng như hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người có hình ảnh.

Tự ý lấy hình ảnh của người khác để quảng cáo sản phẩm bị xử phạt như thế nào? Theo điểm b khoản 3 Điều 51 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP, hành vi quảng cáo có sử dụng hình ảnh cá nhân khi chưa được đồng ý bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, cá nhân vi phạm phải bồi thường thiệt hại vật chất và tổn thất tinh thần theo Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hành vi chế ảnh, ghép ảnh xúc phạm người khác trên mạng xã hội có bị phạt tù không? Cá nhân thực hiện hành vi chế ảnh bôi nhọ nhân phẩm có thể bị xử phạt hành chính từ 5.000.000 đồng theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP. Nếu gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 với mức phạt tù lên đến 3 năm.

Quyền nhân thân đối với hình ảnh khác với quyền đối với từng bức ảnh cụ thể ra sao? Quyền nhân thân đối với hình ảnh tồn tại vô thời hạn, gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao. Ngược lại, quyền đối với từng bức ảnh cụ thể là quyền nhân thân phái sinh mang tính thương mại, sẽ chấm dứt sau khi bức ảnh được sử dụng đúng mục đích và phạm vi theo hợp đồng đã ký kết giữa các bên.

Nạn nhân cần thực hiện các bước nào khi phát hiện hình ảnh bị lạm dụng trái phép? Nạn nhân nên tiến hành lập vi bằng để ghi nhận chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Sau đó, thực hiện quyền tự bảo vệ theo Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015 bằng cách gửi văn bản yêu cầu gỡ bỏ, hoặc nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về quyền nhân thân đối với hình ảnh và làm rõ bản chất kép giữa quyền nhân thân gốc và quyền tài sản phái sinh.
  • Công trình đã chỉ ra 4 dạng hành vi xâm phạm phổ biến trong thực tiễn, phân tích sâu sắc các vụ việc điển hình trong lĩnh vực xuất bản, quảng cáo và mạng xã hội.
  • Nghiên cứu đánh giá toàn diện những hạn chế của Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các văn bản xử phạt hành chính hiện hành.
  • Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp lập pháp đồng bộ, có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại tại Tòa án.
  • Đóng góp khoa học của đề tài mở ra lộ trình hoàn thiện pháp luật giai đoạn 2026 đến 2028, tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp tục nghiên cứu bảo vệ hình ảnh cá nhân trước sự phát triển của công nghệ Deepfake và trí tuệ nhân tạo.