Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 1. Khái quát về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 1. Khái niệm người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Trong những năm gần đây, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa dần trở nên phổ biến hơn trên thế giới, phương châm hợp tác cùng xây dựng cộng đồng phát triển thịnh vượng của các quốc gia với nhau đang được đề cao, đặc biệt là sự hợp tác về lao động giữa các nước trên thế giới.
Trong quá trình di chuyển lao động tầm cỡ quốc tế như vậy, người lao động tham gia vào trong lĩnh vực này không chỉ đơn thuần cung cấp những ích lợi về kinh tế (tiền tệ, ngoại hối…) cho đất nước, mà còn góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi công nghệ - kỹ thuật, kiến thức lao động, thành tựu khoa học. từ quốc gia phát triển đến với các quốc gia đang phát triển. Để làm được điều đó, trước hết ta cần phải có một cái nhìn khái quát về lý luận liên quan đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, qua đó ta mới có thể đưa ra những giải pháp tối ưu và chính xác nhất. Hiện nay, khái niệm về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không có một khái niệm cụ thể, nhưng tùy theo góc độ xem xét khác nhau, khái niệm này có thể được nhìn nhận dưới hai góc độ chung là góc độ quốc tế và góc độ Việt Nam.
Xem xét dưới góc nhìn quốc tế, khái niệm người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có thể được gọi dưới cách gọi của một thuật ngữ khác trong hệ thống pháp luật quốc tế là “người lao động di trú”, theo đó “người lao động di trú” được định nghĩa chính thức lần đầu tiên là trong Công ước số 97 Di cư vì việc làm 14 (ILO) 1949, khi đó ILO đã dùng thuật ngữ “người di trú vì việc làm” để ám chỉ cho nhóm người lao động có tính chất đặc thù này. Theo đó, ILO cho rằng “người di trú vì việc làm” trong công ước này được hiểu là: “một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là một người di trú vì việc làm.” Không chỉ có Tổ chức lao động quốc tế ILO đưa ra những khái niệm có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài, một tổ chức quốc tế lớn khác là Liên Hợp Quốc cũng đưa ra định nghĩa của họ về khái niệm này trong Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ 1990, viết tắt là MWC (được thông qua theo nghị quyết A/RES/45/158 vào ngày 18/12/1990), theo đó Công ước MWC đã định nghĩa như sau: “Người lao động di trú (Migrant worker) là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” Theo tác giả, so với khái niệm mà công ước số 97 của ILO đưa ra, khái niệm tại Công ước MWC có tính đầy đủ và hoàn thiện hơn rất nhiều, đặc biệt là Liên Hợp Quốc đã giải quyết được những vấn đề không giải thích được trong công ước số 97 như quốc tịch của người lao động trước khi xuất phát, xác định thời hạn làm việc, và quan trọng nhất là việc xác định tính chất “xuyên suốt” của quá trình di cư lao động. Nhờ những giải thích này, các biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài của các quốc gia trở nên thích hợp hơn trong từng giai đoạn, qua đó giúp các quy định pháp luật hay chính sách trở nên chặt chẽ hơn rất nhiều. Đối chiếu với pháp luật trong nước, Việt Nam kế thừa quan điểm về khái niệm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong công ước MWC, tuy nhiên để phù hợp hơn cho việc điều chỉnh đối tượng riêng là công dân của nước mình, cho nên Việt Nam dùng thuật ngữ “người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” để định nghĩa cho khái niệm về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Theo đó, trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 đã định nghĩa như sau: “Người lao động đi làm 15 việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này.” Tại Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 quy định: “Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này.”2 Như vậy có thể thấy, so với pháp luật về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 thì pháp luật mới đã có những thay đổi, theo đó quy định rõ hơn về điều kiện về độ tuổi đối với người lao động làm việc tại nước ngoài. Từ những khái niệm nêu trên có thể rút ra được một định nghĩa đầy đủ về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài như sau: :“Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, đã, đang và sẽ làm một công việc hưởng lương ở nước ngoài có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đặc điểm người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Thông qua những khái niệm về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, kết hợp với các quy định tại các điều ước quốc tế, văn bản pháp luật Việt Nam, tác giả xin nêu ra một số đặc điểm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài như sau: Thứ nhất, người lao động Việt Nam đi làm việc phải chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế. 2 Khoản 1 Điều 3, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020.
16 Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của công việc mà họ tham gia. Đó là công việc có tính quốc tế, là sự hợp tác giữa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận lao động, cho nên người lao động không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về các quy định liên quan liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động (quyền xuất cảnh, giấy phép đăng ký làm việc ở nước ngoài, quyền được biết thông tin trước khi ra nước ngoài…), ngoài ra, người lao động còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động (quyền nhập cảnh, giấy phép lưu trú, quyền được hưởng ưu đãi từ chính sách của nước tiếp nhận lao động, nghĩa vụ về thuế khi làm việc, bảo hiểm…). Bên cạnh đó người lao động còn phải chịu sự điều chỉnh của các yếu tố như điều kiện làm việc, văn hóa, xã hội, phong tục – tập quán, ngôn ngữ… của nước tiếp nhận lao động, các quy định pháp lý nằm trong thỏa thuận hợp tác của song phương. Thứ hai, người lao động đi làm việc ở nước ngoài thường là những người còn trẻ với sức khỏe tốt, bền bỉ, đáp ứng đủ điều kiện về thể chất và tinh thần khắc nghiệt của nước tiếp nhận lao động.
Do tính chất công việc ở các thị trường lao động lớn này đa phần là các công việc nặng nhọc nằm trong những lĩnh vực như công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp… cho nên người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện nay thường là người lao động trẻ nằm trong giai đoạn từ 18 -35 tuổi, bởi vì độ tuổi này có thể làm việc tốt hơn trong hoàn cảnh áp lực cao, đây là yếu tố cần thiết mà người thuê lao động yêu cầu. Ngoài ra, họ còn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắc nghiệt của nước tiếp nhận lao động và người thuê lao động, chủ yếu là các yêu cầu liên quan đến thể chất (sức khỏe, bệnh tật, ngoại hình, …) của người lao động, ngoài ra còn có những yếu tố liên quan đến tinh thần khác (như hành vi nhận thức, bệnh tâm lý…) Thứ ba, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là lao động có thời hạn làm việc, thời hạn đó được quy định rõ ràng trong hợp đồng mà người lao động ký kết. 17 Thời hạn lưu trú của người lao động được quy định trong Giấy phép lưu trú, đó là minh chứng cho sự hợp pháp của họ tại nước tiếp nhận lao động. Dựa trên thời hạn đó, khi kết thúc thời hạn lao động, người lao động phải về nước nếu không sẽ không còn chịu sự bảo vệ của pháp luật nước tiếp nhận.
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt với những người sống thường trú và làm việc tại quốc gia họ không mang quốc tịch để làm việc, những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế… Vì vậy, cam kết về nước đúng thời hạn là một trong những điều khoản quan trọng được đặc biệt lưu ý trong hợp đồng nhằm tránh tình trạng hết hạn hợp đồng mà người lao động không về nước, ở lại cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài. Thứ tư, hoạt động đi làm việc ở nước ngoài của người lao động Việt Nam không bị quá khó khăn trong việc tiếp cận văn hóa nước ngoài nhờ vào những đức tính cũng như trí tuệ của người Việt Nam. Người dân Việt Nam thường là những người lao động chăm chỉ, cần mẫn và nghiêm túc trong công việc của bản thân, đó là đức tính tốt đẹp được truyền lại từ thế hệ trước và lưu truyền lại đến bây giờ.