phần Mở đầu, 4 chương, 8 tiết, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án. 5 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. KHÁI QUÁT CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến chủ quyền quốc gia 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thực tế, CQQG là một khái niệm chính trị, pháp lý phức tạp, được giải thích khác nhau dưới nhiều góc độ. Trong lịch sử đã tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về CQQG: “Quan niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia đã xuất hiện ở châu Âu vào khoảng thế kỷ XV-XVI như là một khuynh hướng lý luận pháp luật quốc tế nhằm chống lại quyền lực của đức Giáo hoàng và Hoàng đế” [179]. Đại diện của quan niệm này có thể kể đến Niceolo Machiavelli (1469-1572), trong cuốn “Le Prince” (Quân Vương -xuất bản năm 1532), ông cho rằng CQQG phải tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, phải được đặt trên mọi quyền khác. Nghĩa là trong phạm vi lãnh thổ của mình, một quốc gia có quyền làm mọi điều bất chấp các quốc gia khác cũng như luật pháp quốc tế, và quốc gia có thể sử dụng tất cả các phương thức, biện pháp khác nhau, kể cả việc sử dụng thủ đoạn để tăng cường năng lực thực thi quyền đó của mình.
Sau đó một số học giả như Jean Bodin và Hugo Grotius (thế kỷ XVI - XVII) cũng chủ trương CQQG phải tuyệt đối. Theo Jean Bodin “CQQG là quyền được lãnh đạo và cưỡng chế, mà không phải chịu sự lãnh đạo hay cưỡng chế nào”. “Quan niệm chủ quyền tuyệt đối của các quốc gia đã bị các luật gia quốc tế phê phán quyết liệt” [141]. Những người phản đối cho rằng, trong giai đoạn HNQT quan điểm này đặt nền móng cho việc không thừa nhận giá trị ràng buộc pháp lý của các cam kết quốc tế, cho phép các quốc gia tự ý đặt ra các quy tắc bất chấp cả sự tồn tại của luật pháp quốc tế, các cam kết quốc tế… tạo cơ sở cho các quốc gia có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự mạnh lấn át các nước nhỏ, yếu, gây trở ngại lớn cho sự hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia trong giai đoạn HNQT.
Quan niệm chủ quyền độc lập được một số nhà lý luận quốc tế đưa ra với nhiều điểm tiến bộ hơn quan điểm chủ quyền tuyệt đối. Chales Rouseau (1944) cho rằng: CQQG đồng nghĩa với sự độc lập của quốc gia đó. Theo Chales Rouseau, có nhiều quan điểm tương đồng giữa hai khái niệm độc lập và CQQG được thể hiện ở ba đặc tính: quyền lực toàn vẹn, quyền lực chuyên biệt và quyền lực tự chủ. Theo đó, CQQG phải toàn vẹn, chính quyền được phép can thiệp vào mọi lĩnh vực xét thấy có lợi cho sự tồn tại và phát triển bền vững của một quốc gia.
CQQG độc quyền trên toàn bộ lãnh thổ của mình, trừ 6 trường hợp quốc gia tự mình hạn chế độc quyền này bởi những cam kết quốc tế với những tổ chức quốc tế. CQQG phải tự chủ, không lệ thuộc vào quốc gia nào trong quan hệ đối nội và đối ngoại [194; tr. Mặc dù có những điểm tiến bộ nhất định so với quan niệm chủ quyền tuyệt đối nhưng quan niệm chủ quyền độc lập mới chỉ tập trung vào một khía cạnh của CQQG là lĩnh vực đối nội, chưa thực sự rõ ràng về nhiều phương diện nhất là về đối ngoại. Quan niệm tiếp cận đa chiều về CQQG trong đối nội và đối ngoại là quan niệm được hầu hết các học giả nước ngoài hiện nay tiếp cận và là quan điểm dung hòa, tương đối phù hợp nhất với bối cảnh hiện nay như trong các công trình: “Patriotism in the Age of Globalization” của Bill Emmott (2015); “Put Globalization to Work for Democracies “ của Dani Rodrik (2016),.
Theo quan niệm này, độc lập, tự chủ trong lĩnh vực đối nội sẽ có sự phân biệt với độc lập, tự chủ trong lĩnh vực đối ngoại. Về đối nội, quốc gia có quyền tối cao, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; có quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Về đối ngoại, quốc gia có quyền độc lập trong quan hệ quốc tế với các tổ chức quốc tế và quốc gia khác, có quyền quyết định mọi vấn đề về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội cũng như chính sách đối ngoại của mình. Tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, dù khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội đều được bình đẳng với quốc gia khác, được toàn vẹn lãnh thổ, được độc lập, tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa mà không một quốc gia nào khác được áp đặt hay can thiệp dưới mọi hình thức [126].
Đi vào chi tiết hơn, công trình Global Science and National Sovereignty [191] của Grégoire Mallard, Catherine Paradeise (2008) bao gồm các nghiên xã hội học về lịch sử của khoa học, cung cấp các nghiên cứu trường hợp chi tiết về cách mà chủ quyền đã được xây dựng, tái khẳng định và chuyển đổi trong thế kỷ XX bằng cách xây dựng các ngành khoa học, thực hành tri thức và các đối tượng nghiên cứu. Tác giả khẳng định, mối quan hệ của quyền lực có chủ quyền của quốc gia với kiến thức chuyên môn của các nhà khoa học là một lực lượng hợp pháp - và đôi khi đầy thách thức - trong xã hội đương đại. Cuốn sách cũng cung cấp một loạt các nghiên cứu trường hợp trong việc khám phá cách thức các loại khoa học khác nhau của nhân loại cung cấp các hiểu biết về CQQG trong thế kỷ trước. Từ khoa học sinh hóa ở Nga, đến khoa học hạt nhân ở Mỹ và châu Âu, từ kinh tế ở Nam Á, đến khí hậu ở Nam Mỹ, mỗi chương đều thể hiện vai trò của các nhà khoa học 7 trong việc tạo ra các quốc gia và các tổ chức quốc tế.
Từ kết quả của tất cả các nghiên cứu trường hợp đó, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa mới về khái niệm chủ quyền hiện đại và sự đánh giá lại vai trò của khoa học trong đời sống chính trị [191]. Trong bài viết “Put Globalization to Work for Democracies” của Dani Rodrik (2016) [191] còn phân tích rõ hơn phương thức dung hòa vấn đề độc lập, tự chủ trong đối nội và đối ngoại: Một là, các quốc gia được quyền lựa chọn cho riêng mình những thể chế phù hợp nhất. Hai là, các nước có quyền bảo vệ hệ thống thể chế và gìn giữ tính toàn vẹn trong các quy định của mình. Ba là, mục đích của đàm phán HNQT phải là tăng quyền tự chủ về chính sách trong nước, đồng thời lưu tâm đến những tác hại có thể có đối với các chủ thể.
Bốn là, nền quản trị toàn cầu nên tập trung vào tăng cường dân chủ, không phải vào TCH [191]. Đối với vấn đề CQQG của Việt Nam, có thể kể đến công trình Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của tác giả Monique Chemillier, Gendreau (2011). Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày những phân tích lập luận của các bên liên quan đến cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đưa ra những giải pháp cho vấn đề tranh chấp phức tạp này dựa vào cơ chế giải quyết tranh chấp bằng luật quốc tế và đặc biệt là của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Tác giả cũng đề cập đến việc nghiên cứu quy chế của các quần đảo nói trên qua bốn nội dung hinh: (1) Các dữ kiện liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, (2) Việc thụ đắc danh nghĩa ban đầu, (3) Sự tiến triển tiếp theo của danh nghĩa, các kết luận và các cơ sở giải quyết tranh chấp.
Cuốn sách là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và độc lập, được hình thành thông qua việc khảo cứu các tài liệu lưu trữ và cả các tài liệu pháp lý hiện có. Chính việc rà soát các tài liệu lưu trữ tại Pháp của tác giả đã tạo nên tính chất độc đáo của công trình này so với nhiều công trình khác từng được công bố về vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [100]. Các công trình nghiên cứu ở trong nước (1) Các quan niệm khác nhau về CQQG: Tác giả Đỗ Sơn Hải (2012) trong bài viết “Nhận thức về CQQG và HNQT trong giai đoạn hiện nay” [51] cho rằng, “chính sách mở cửa, HNQT đã đem đến những thành công to lớn cho nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển. Tuy nhiên, những tác động trái chiều của quá trình hội nhập đang gây áp lực lên chủ quyền của mỗi quốc gia, không phân biệt lớn, nhỏ, giàu, nghèo.
Những sự kiện quốc tế gần đây đang đặt 8 ra những câu hỏi về khả năng bảo đảm CQQG cũng như hiệu quả của chính sách HNQT”. Thực chất của tình trạng lưỡng nan xoay quanh mối quan hệ giữa CQQG và chính sách HNQT đối với bất cứ quốc gia nào hiện nay có lẽ là ở sự không tương đồng giữa mô hình phát triển KT-XH công nghiệp (mô hình đòi hỏi phải tăng cường hợp tác, trao đổi trong mọi lĩnh vực) và hệ thống “luật chơi” toàn cầu (mô hình quản lý trong đời sống quốc tế). Chính thực trạng này khiến chủ quyền của một số quốc gia có nguy cơ bị đe dọa hay bị xâm phạm khi HNQT [51]. Cũng liên quan đến nội dung này, tác giả Hoàng Trần Như Ngọc (2018) trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về CQQG và quyền con người” [111] khẳng định, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thì CQQG, ĐLDT không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với quyền con người, quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động.
Đây chính là chiếc chìa khóa, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc khẳng định và đấu tranh cho độc lập tự do, CQQG và quyền con người. Đáng chú ý, tác giả đã phản biện quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền” và cho rằng các nước tư bản phát triển đã lợi dụng quan điểm này như một cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác và vi phạm CQQG đó. Nhưng quyền con người vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính khu vực và mang bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia.