Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lãnh Đạo Bảo Tồn và Phát Huy Giá Trị Di Tích Lịch Sử (2000-2015)

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đảng bộ tỉnh Lào Cai trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử giai đoạn 2000-2015.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4.1. Đối tượng nghiên cứu

0.4.2. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp về khoa học của đề tài

0.7. Kết cấu của Luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai

1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai trước năm 2000

1.3. Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước

1.4. Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh từ năm 2000 đến năm 2005

1.5. Chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử

1.6. Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai

2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

2.3. Chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai

2.4. Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử

2.5. Chỉ đạo xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý công tác bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử

2.6. Chỉ đạo điều tra, xếp hạng, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử

2.7. Chỉ đạo công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở hạ tầng phát huy giá trị các di tích lịch sử

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một vài nhận xét

3.2. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Lào Cai 2000 2015

Bảo tồn di tích lịch sử là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm gìn giữ giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc. Tỉnh Lào Cai, với vị trí địa lý và lịch sử phong phú, đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 2000 đến 2015. Các di tích này không chỉ là chứng nhân của quá khứ mà còn là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

1.1. Di Tích Lịch Sử Tỉnh Lào Cai Đặc Điểm và Giá Trị

Di tích lịch sử ở Lào Cai bao gồm nhiều loại hình như đền, chùa, di tích cách mạng và các công trình kiến trúc cổ. Những di tích này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn có giá trị văn hóa, nghệ thuật, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất này.

1.2. Vai Trò Của Di Tích Trong Phát Triển Du Lịch

Di tích lịch sử không chỉ là nơi lưu giữ ký ức văn hóa mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách. Việc phát huy giá trị di tích thông qua du lịch giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn văn hóa và tạo nguồn thu cho địa phương.

II. Những Thách Thức Trong Công Tác Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử

Công tác bảo tồn di tích lịch sử ở Lào Cai đối mặt với nhiều thách thức như sự phát triển đô thị hóa, biến đổi khí hậu và thiếu nguồn lực. Những yếu tố này ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, đòi hỏi các giải pháp hiệu quả.

2.1. Tác Động Của Đô Thị Hóa Đến Di Tích

Sự phát triển đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc nhiều di tích bị xâm hại hoặc mất đi giá trị nguyên gốc. Việc quy hoạch đô thị cần phải xem xét đến việc bảo tồn các di tích lịch sử.

2.2. Thiếu Nguồn Lực và Nhân Lực Trong Bảo Tồn

Công tác bảo tồn di tích lịch sử thường thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực chuyên môn. Điều này gây khó khăn trong việc thực hiện các dự án bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Tích Lịch Sử

Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, tỉnh Lào Cai đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ tập trung vào việc bảo tồn vật chất mà còn chú trọng đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Xây Dựng Chương Trình Bảo Tồn Di Tích

Chương trình bảo tồn di tích được xây dựng dựa trên các nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Các dự án bảo tồn cần được thực hiện đồng bộ và có sự tham gia của cộng đồng.

3.2. Tăng Cường Giáo Dục và Truyền Thông Về Di Tích

Giáo dục và truyền thông về giá trị di tích lịch sử là rất quan trọng. Các hoạt động này giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của người dân trong công tác bảo tồn.

IV. Kết Quả Đạt Được Trong Công Tác Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử

Trong giai đoạn 2000-2015, tỉnh Lào Cai đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo tồn di tích lịch sử. Nhiều di tích đã được phục hồi và tôn tạo, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và thu hút du khách.

4.1. Các Di Tích Được Phục Hồi Thành Công

Nhiều di tích lịch sử đã được phục hồi thành công, như Đền Thượng và Đền Đôi Cô. Những công trình này không chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh mà còn là điểm đến du lịch hấp dẫn.

4.2. Tác Động Tích Cực Đến Kinh Tế Địa Phương

Việc phát huy giá trị di tích lịch sử đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân địa phương thông qua du lịch. Điều này góp phần nâng cao đời sống và phát triển kinh tế bền vững.

V. Kết Luận Và Hướng Đi Tương Lai Trong Bảo Tồn Di Tích

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử ở Lào Cai cần tiếp tục được chú trọng trong tương lai. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và có sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo hiệu quả.

5.1. Định Hướng Chiến Lược Bảo Tồn

Định hướng chiến lược bảo tồn cần phải được xây dựng dựa trên các nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng trong công tác bảo tồn.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn di tích lịch sử là rất quan trọng. Các hoạt động cộng đồng sẽ giúp nâng cao nhận thức và tạo ra sự gắn kết giữa người dân với di tích.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh lào cai lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương từ năm 2000 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005 Chương 2: Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2006 đến năm 2015 Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai trước năm 2000 1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và truyền thống lịch sử Về điều kiện tự nhiên, Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ.

Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ ngày 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu), diện tích tự nhiên: 6. Tỉnh Lào Cai giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với 182,086 km đường biên giới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Nam giáp với tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp với tỉnh Hà Giang, phíaTây giáp với tỉnh Lai Châu. Lào Cai có điểm cực bắc 22051’, vĩ độ Bắc thuộc xã Pha Long, huyện Mường Khương; điểm cực đông 104038’ kinh đông thuộc xã Vĩnh Tiến, huyện Bảo Yên.

Lào Cai là tỉnh có dãy núi và đỉnh núi cao nhất nước ta. Điểm thấp nhất của tỉnh thuộc thung lũng sông Hồng ở khu vực làng Thíp (Bảo Yên) khoảng 80 - 90m và cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng (Sapa) cao 3143m so với mực 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước biển. Toàn tỉnh địa hình phân thành 4 đai cao: thấp hơn 200m, từ 200 - 500m, từ 500 - 1000m, từ 1000 - 1500m. Bên cạnh sự phân hoá đai cao, địa hình Lào Cai còn có tính phân bậc rõ ràng với 7 bậc.

Hình thái địa hình có các đặc điểm cơ bản: đặc điểm chia cắt sâu, đặc điểm chia cắt ngang, đặc điểm độ dốc của địa hình, đặc điểm sơn văn. Nằm ở phía Tây Bắc lãnh thổ Việt Nam, Lào Cai mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa, mùa đông lạnh, biến động mạnh và phân hóa đa dạng. Đặc biệt, địa hình có sự chia cắt mạnh tạo nên sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng tương đối lớn. Với những đặc điểm về địa chất, môi trường tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, biến đổi liên tục theo mùa đã gây ra những tác động lớn đến các di tích chủ yếu được làm từ chất liệu gỗ.

Về kinh tế - xã hội, Lào Cai là tỉnh có nhiều tài nguyên để phát triển kinh tế. Tài nguyên đất của tỉnh đa dạng với 30 loại đất chia làm 10 nhóm chính, trong đó có một số nhóm chính có độ phì tự nhiên cao như nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn vàng đỏ, nhóm đất mùn alit trên núi, nhóm đất đỏ vàng,….907 ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với hệ động thực vật phong phú và có giá trị kinh tế cao. Khoáng sản Lào Cai đa dạng, có trữ lượng lớn với 150 điểm quặng và trên 30 loại khoáng sản. Tài nguyên nước của Lào Cai tương đối phong phú với hệ thống sông suối dày đặc, phân bố khá đều với hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy.

Những tiềm năng trên là điều kiện để Lào Cai khai thác phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Sau 25 năm tái lập tỉnh, kinh tế Lào Cai đã có những bước phát triển vượt bậc. Tốc độ tăng 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưởng luôn ở mức 2 chữ số, cao hơn những năm đầu tái lập tỉnh, cao hơn so với mức tăng của cả nước và nhiều địa phương khác. Tính đến hết năm 2015, GDP của Lào Cai đạt 18.330 triệu đồng [24, tr.

Sự tăng trưởng này đã giúp Lào Cai dần ra khỏi danh sách các tỉnh nghèo, chậm phát triển của khu vực. Đây là những điều kiện để quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tu bổ, phục hồi các di tích lịch sử ở địa phương. Dân cư, dân tộc, Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, toàn tỉnh Lào Cai có 614.595 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số trong tỉnh Lào Cai với 212. Số lượng người Kinh đến từ hơn 40 tỉnh thành trong cả nước.

Dân tộc Hmông có 146.147 người; Dân tộc Tày có 94.243 người; Dân tộc Dao có 88.379; Dân tộc Giáy có 28.606 người; Dân tộc Nùng có 25.591 người; Dân tộc Phù Lá có 8.926; Dân tộc Hà Nhì có 4.026; Dân tộc Thái có 1.971 người; Dân tộc Bố Y có 1.398; Dân tộc Mường có 958 người; Dân tộc Hoa có 822 người; Dân tộc La Chí có 619 người [23, tr. Có thể nói, ngay từ thời cổ đại, Lào Cai đã là nơi hội tụ của nhiều tộc người. Lào Cai là nơi cư trú của 3/4 ngữ hệ lớn của Việt Nam: ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Thái, với 6/8 nhóm ngôn ngữ của Việt Nam: Việt – Mường, Tày – Thái, Ka Đai, Hmông – Dao, Hán, Tạng – Miến. Có 13 dân tộc với 23 nhóm ngành khác nhau.

Mỗi một dân tộc lại có bản sắc văn hóa riêng; trong cùng một dân tộc nhưng mỗi nhóm, ngành mang một đặc điểm sắc thái riêng tương tự như một tộc người. Mặc dù có tộc danh khác nhau, quê quán khác nhau nhưng các dân tộc Lào Cai không xảy ra xung đột về dân tộc, tôn giáo. Các đặc điểm trên tạo cho Lào Cai là tỉnh giàu bản sắc văn hóa, đồng thời là nơi thuận lợi cho giao lưu, hội tụ văn hoá. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về truyền thống lịch sử văn hóa, Với vị trí cửa ngõ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, từ xa xưa trong lịch sử, Lào Cai đã là mảnh đất “phên dậu” của đất.

Đặc điểm này đã tạo nên cho Lào Cai không chỉ có vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng mà còn là mảnh đất giàu giá trị lịch sử văn hóa. Sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi soạn năm 1438 có ghi Hưng Hoá xưa là bộ Tân Hưng. Bộ Tân Hưng là một trong số 15 bộ của nước Văn Lang thời các Vua Hùng. Dưới thời Âu Lạc, nước ta được chia thành 17 bộ.

Vùng phía đông và phía nam Lào Cai thuộc bộ lạc Tây Vu. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Lào Cai là vùng đất biên giới được cai quản theo chế độ kimi (tức là ràng buộc lỏng lẻo). Dưới thời phong kiến độc lập, vùng đất Lào Cai nhiều lần được thay đổi về duyên cách và địa lý với các tên gọi: Châu Đăng (thời Lý), huyện Thủy Vĩ, huyện Văn Bàn thuộc châu Quy Hóa (thời Trần); châu Thủy Vĩ, châu Văn Bàn (thuộc phủ Quy Hóa, thừa tuyên Hưng Hóa (Thời Lê); Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (Thời Nguyễn). Sau khi chiếm đóng được Lào Cai, năm 1907, thực dân Pháp thành lập tỉnh dân sự Lào Cai.

Tháng 11 năm 1946, khi được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của quốc dân Đảng, Lào Cai là một tỉnh thuộc liên khu 10. Thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng Lào Cai, chia Lào Cai xứ Thái tự trị và xứ Nùng tự trị. Ngày 28-1-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 134-SL thành lập khu Tây Bắc. Lào Cai cùng với các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu ra nhập khu Tây Bắc.

Sau khi thống nhất đất nước, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá V, kỳ họp thứ 2 ra Quyết nghị hợp nhất 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và Phù Yên) thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 12/8/1991, Nghị quyết Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh mới là tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái. Ngày 1/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái thành lập. Sự thay đổi về đơn vị hành chính, gắn liền với đó là sự thay đổi của bộ máy tổ chức chính quyền đã tác động to lớn đến công tác quản lý di tích trên địa bàn tỉnh.

Nhân dân các dân tộc Lào Cai rất giàu truyền thống yêu quê hương, đất nước. Lịch sử dân tộc đã ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của nhân dân biên giới Lào Cai trong việc cản bước quân thù, làm cho kẻ thù phải thất điên bát đảo ngay khi chúng đặt chân vào lãnh thổ như ta như trong kháng chiến chống Mông – Nguyên, kháng chiến chống quân Minh, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của dân tộc. Trong thời cận đại, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã chiến đấu chống lại thực dân Pháp ngay từ khi chúng đặt chân đến Lào Cai. Những cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Quang Bích, rồi Giàng Chẩn Dùng, Giàng Chẩn Hùng khởi xướng,… hay những cuộc đấu tranh tự phát của đồng bào các dân tộc ở Ý Tý, Sa Pa,… đã minh chứng cho lòng yêu nước của nhân dân Lào Cai.

Trong suốt những năm tháng chiến đấu để giải phóng tỉnh nhà, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã anh dũng tham gia vào các trận tuyến để chống giặc. Sau ngày tỉnh Lào Cai được giải phóng (1/11/1950), nhân dân Lào Cai lại tích cực tham gia tiễu phỉ và phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau năm 1954, nhân dân các dân tộc Lào Cai đoàn kết, thi đua lao động sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam. Rất nhiều người con của Lào Cai đã ngã xuống cho nền độc lập của dân tộc.

Những trang sử hào hùng của nhân dân các dân tộc Lào Cai minh chứng cho sự có mặt, xây dựng và bảo vệ mảnh đất biên cương của tổ quốc được ghi dấu trong các di tích lịch sử như: Đền Mẫu – ra đời từ thời nhà Nguyễn, Đền Thượng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ