Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Theophrastus (371 - 286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loại thực vật và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật. Trong hai tác phẩm "Lịch sử thực vật" (Historia Plantarum) và "Cơ sở thực vật" Ông mô tả được khoảng 500 loài cây. Sau đó Plinus (79 - 24 TCN) cho ra đời cuốn "Lịch sử tự nhiên" (Historia naturalis) Ông đã mô tả gần 1.
Cùng thời gian này có Dioseoride (20 - 60 TCN) một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã xuất bản cuốn "Dược liệu học". Ông nêu được hơn 500 loài cây cỏ và xếp chúng vào các họ khác nhau. Trên thế giới, tổng số loài thực vật hiện nay có nhiều thay đổi và chưa cụ thể, chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ. Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.
Phêđôrốp (1965) đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác. Những nghiên cứu về thành phần loài thực vật được tiến hành từ lâu trên thế giới. Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của chúng. Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại các loại hình thảm thực vật.
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lược chung trên toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn 4 việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học như: Công ước ĐDSH; Hiệp Hội Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), Chương trình môi trương liên hợp quốc (UNEP), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), viện thài nguyên Di truyền Quốc Tế (IPGRI). Nhiều hội nghị và hội thảo được tổ chức và nhiều quốn sách mang chỉ dẩn về công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH được xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn về bảo tồn và phát triển ĐDSH và rất nhiều công ước Quốc tế đã được nhiều Quốc gia tham gia thực hiện. - Với nhịp điệu phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng, cùng vời việc sử dụng không hợp lý và sự quản lý yếu kếm của tài nguyên rừng, sự suy thoái, mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại mà nguyên nhân chủ yếu là do con người khai thác và sử dụng thiên nhiên không hợp lý đã làm cho nhiều loài đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoặc biến mất.
- Để bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn loài nói riêng theo hướng phát triển bền vững, những năm gần đây ở mỗi nước, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chon cho mình một chiến lược và chính sách quản lý tài nguyên hợp lý, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia mà hình thành lên một hệ thống quản lý tài nguyên khác nhau. - Hiện nay trên thế giới đang sử dụng hai phương pháp bảo tồn ĐDSH là: + Bảo tồn nguyên vị (in situ) Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng, các sinh cảnh và các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn nguyên vị thường được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biên pháp quản lý phù hợp.
Ngoài ra theo chương trình phát triển Giáo dục khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) còn có khu Di sản thế giới, và theo công ước RAMSAR còn có VQG Đất ngập nước RAMSAR. Tuy nhiên bảo tồn nguyên vị còn bao gồm cả 5 các công việc quản lý các động thực vật hoang dã, các nguồn TNTN ngoài các VQG. Trong nông nghiệp, lâm nghiệp bảo tồn nguyên vị được hiểu là bảo tồn các loài giống, loài cây trồng và cây rừng được trồng tại vùng đồng ruộng hoặc các rừng trồng. + Bảo tồn chuyển vị (ex situ) Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biên pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng.
Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: Nơi sinh sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, dùng để làm vật liệu cho công tác nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật, các bể nuôi thủy sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hành hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy. Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tác khỏi quá trình tiến hóa tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa các bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn và phát triển loài cũng như phát triển đa dạng sinh học.
Tại Việt Nam Việt Nam với diện tích khoảng 332.000 Km2 nằm ở phía đông trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Vị trí địa lý của Việt Nam (chỉ kể phần đất liền) giới hạn của kinh độ 1200,9’- 1090,30’; Vĩ độ: 8010’ - 230 24’. Đông và Đông Nam giáp biển đông và Thái Bình Dương, Bắc giáp với Trung Quốc. Tây giáp Lào và Nam giáp với Campuchia Việt Nam là nước có đa dạng sinh học cao, là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của thế giới và được thể hiện qua sự phong phú của nguồn gen, số lượng loài, các kiểu cảnh quan, các hệ sinh thái và vùng địa lý sinh học.
6 Ở nước ta, trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” và các tập tài liệu khoa học bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch. Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10. Phan Kế Lộc (1998) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5.660 chi và 240 họ. Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992) trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê được số loài của hệ thực vật Việt Nam đạt 10.500 loài gần trùng với số lượng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo với 2.000 loài, trong đó có 904 loài cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng.
Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, Nguyễn Tiến Bân (1997) đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta. Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) trong khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2. 7 - Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam.766 loài thực vật trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao. Trong đó có 10% loài quý hiếm và 3% loài đặc hữu.
- Hiện nay ở Việt Nam tình trạng suy giảm số lượng cá thể các loài, đặc biệt là các loài quý hiếm, có giá trị khai thác ngày càng tăng, năm 2002 - 2003, theo tiêu chuẩn mới của IUCN, Sách đỏ Việt Nam được các nhà khoa học soạn thảo lại. Trong đó, số lượng các loài đông, thực vật được đưa vào sách đỏ lần này cao hơn số lượng công bố (417 loài động vật vào năm 1992, 450 loài thực vật vào năm 1995). Chúng ta đã đánh mất một kho tàng nguồn gen động thực vật hoang dã quý hiếm, đánh mất lá phổi xanh của nhân loài và đánh mất những cỗ máy giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường sống cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất. Phạm Hồng Ban (2001) khi nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An, tác giả đã xác định thành phần loài, mật độ cá thể và phổ dạng sống của thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy theo thời gian bỏ hoá.
Theo tác giả, hệ thực vật sau nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát (Nghệ An) có 586 loài thuộc 344 chi, 105 họ thực vật bậc cao có mạch. Averyanov và các cộng sự (2005), đã nghiên cứu hệ thực vật Pù Luông, các tác giả đã đánh giá về đa dạng thảm thực vật và thành phần loài với 152 họ, 477 chi, 1. Hoàng Thị Hạnh (2007), khi nghiên cứu đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại vùng đệm VQG Bến En, Thanh Hóa đã xác định được 396 loài thuộc 245 chi, 93 họ của 4 ngành thục vật bậc cao có mạch là Ngành Thông đất, ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Hạt kín. Đỗ Ngọc Đài (2012) điều tra Đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa đã xác định được 952 loài, 517 chi và 162 họ.
8 Nguyễn Anh Dũng, nghiên cứu tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Môn Sơn, vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát - Nghệ An đã xác định được 497 loài thuộc 319 chi và 110 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch là Ngành thông đất (8 loài), ngành dương xỉ (27 loài) và ngành Mộc lan (642 loài). Phan Thị Thúy Hà (2006), khi điều tra Hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Hương Điền, thuộc vương quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh đã xác định được 349 loài thuộc 215 chi và 79 họ thuộc 4 ngành là Ngành thông đất, ngành Dương xỉ, ngành thông và ngành Mộc Lan.