Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật có nguồn gen quý tại Vườn Quốc Gia Bến En, Thanh Hoá" do sinh viên Trịnh Thị Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Văn Sâm tại Khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2011).
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở thực trạng suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng tự nhiên tại Việt Nam. Theo thống kê tác giả dẫn dụng, trong hơn 50 năm (1943–1993), diện tích rừng cả nước giảm từ 14,3 triệu ha xuống còn 9,5 triệu ha (trung bình mỗi năm mất 100 ngàn ha); diện tích rừng giàu và trung bình chỉ còn lại 1,4 triệu ha, tương đương 13% diện tích có rừng. Tại Vườn Quốc gia (VQG) Bến En—khu bảo tồn thành lập năm 1992 với diện tích tự nhiên 16.634 ha và vùng đệm 12.000 ha—hệ thực vật ghi nhận 1.389 loài có mạch thuộc 650 chi, 173 họ, trong đó có 29 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN (2006) và 42 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007). Tuy nhiên, các loài cây gỗ quý bản địa có giá trị thương phẩm cao bị săn lùng ráo riết. Từ năm 2007 đến thời điểm nghiên cứu, riêng loài Lim xanh đã ghi nhận ít nhất 112 cây bị khai thác trái phép với tổng khối lượng $110,813\text{ m}^3$.
Mục tiêu chung của đề tài là làm rõ một số đặc điểm sinh thái học và các đặc tính liên quan nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn, phát triển các loài thực vật có nguồn gen quý tại Vườn Quốc gia Bến En cũng như ở Việt Nam. Tác giả cụ thể hóa thành 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái học chính và đánh giá khả năng tái sinh của ba loài nghiên cứu.
- Đánh giá tình hình phân bố của ba loài tại khu vực điều tra.
- Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát triển các loài nghiên cứu tại VQG Bến En.
- Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây trên.
Đối tượng nghiên cứu là 03 loài cây gỗ có nguồn gen quý: Lim xanh (Erythrophloeum fordii Oliv., họ Vang - Caesalpiniaceae), Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie, họ Dầu - Dipterocarpaceae) và Sao hải nam (Hopea hainanensis Merr. et Chun, họ Dầu - Dipterocarpaceae). Phạm vi không gian giới hạn tại khu vực Sông Chàng thuộc tiểu khu 616 và tiểu khu 619, VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận vận dụng lý thuyết sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể của E. Odum (1975); hệ thống quan điểm lâm sinh nhiệt đới của G. N. Baur (1974); nguyên lý bảo tồn nguồn gen nguyên vị (in-situ) và chuyển vị (ex-situ) cùng 4 nhóm đối tượng ưu tiên của Lê Đình Khả và Nguyễn Hoàng Nghĩa (1990). Nghiên cứu căn cứ trên các văn bản quản lý nhà nước gồm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ quy định danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (xếp các loài vào nhóm cấm hoặc hạn chế khai thác thương mại).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra sơ thám và điều tra chi tiết:
- Điều tra sơ thám: Bố trí 2 tuyến điều tra tại tiểu khu 616 và 619 với tổng chiều dài 10,6 km, gồm Tuyến 01 từ Ngã Ba Khe đến đường tuần tra (dài 4,9 km, hướng Nam) và Tuyến 02 từ Ngã Ba Đường Tuần Tra đến Bãi Chội (dài 5,7 km, hướng Đông - Đông Nam).
- Điều tra chi tiết lâm phần: Thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($40\text{m} \times 25\text{m}$), bố trí 2 OTC cho mỗi loài ở các vị trí phân bố điển hình. Đo đếm đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính; chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao độ hoặc phương pháp mục trắc ở địa hình vách đá; chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước dây hoặc sào đo.
- Điều tra nhóm loài cây đi kèm: Sử dụng phương pháp ô 7 cây của Thomasius, lấy cây nghiên cứu làm trung tâm và xác định cự ly, loài của 6 cây bạn lân cận gần nhất.
- Điều tra tái sinh tự nhiên: Bố trí 5 ô dạng bản ($16\text{ m}^2$, kích thước $4\text{m} \times 4\text{m}$) trong mỗi OTC (4 ô ở góc, 1 ô ở trung tâm) để đánh giá mật độ, nguồn gốc và số cây triển vọng ($H > 1\text{ m}$). Đồng thời, chọn 5 cây mẹ phẩm chất tốt cho mỗi loài, lập các ô dạng bản ($2\text{m} \times 2\text{m}$) theo 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc tại vị trí dưới tán và cách gốc 1 lần đường kính tán ($D_t$).
- Điều tra công tác bảo tồn: Áp dụng phương pháp chuyên gia (phỏng vấn cán bộ lâm sinh, kiểm lâm) kết hợp khảo sát hiện trường vườn ươm và phân tích hồ sơ quản lý khai thác của VQG.
Số liệu ngoại nghiệp được tổng hợp, xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Các chỉ tiêu mẫu được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền. Công thức tổ thành (CTTT) tầng cây gỗ và cây tái sinh xác định theo số cây: đưa vào công thức các loài có số cá thể lớn hơn hoặc bằng số cá thể trung bình ($\bar{X} = N/m$), các loài còn lại gộp thành nhóm loài khác. Không gian dinh dưỡng ($S_{dd}$) của ô 6 cây Thomasius tính theo công thức:
$$S_{dd} = \pi R_0^2 - \sum s_i$$
trong đó $R_0$ là khoảng cách từ cây tâm đến cây xa nhất trong 6 cây; $s_i$ là tiết diện thân ngang ngực của cây thứ $i$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương này phân tích vị trí chiến lược của tài nguyên rừng tự nhiên đối với phòng hộ môi trường và an ninh sinh thái tại Việt Nam. Tác giả nêu rõ mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng gỗ quý ngày càng tăng với tốc độ suy thoái rừng bản địa. Tác giả dẫn chứng tính cấp thiết tại VQG Bến En—nơi tập trung các quần thể Lim xanh, Chò chỉ và Sao hải nam—song đang chịu sức ép nghiêm trọng từ nạn khai thác trộm (với 112 cây Lim xanh bị đốn hạ trái phép, tương đương $110,813\text{ m}^3$ gỗ trong giai đoạn 2007–2011), từ đó khẳng định lý do tiến hành đề tài.
Chương 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 tổng thuật các nghiên cứu bảo tồn nguồn gen thực vật trên thế giới và ở Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, tác giả trích dẫn các tài liệu của FAO (1975, 1993), Odum (1975), Baur (1974), các thành tựu nhân giống vô tính bằng hom tại Pháp, Đức, Nhật Bản, Brazil, cũng như chính sách bảo tồn nguyên vị 5 loài cây gỗ lớn của Thái Lan (Afzelia xylocarpa, Dipterocarpus alatus, Hopea odorata, Pterocarpus macrocarpus, Tectona grandis). Tại Việt Nam, chương này tóm lược các công trình của Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phùng Ngọc Lan, các đề tài nhân giống cây bản địa tại Cúc Phương, Ba Vì, Bạch Mã. Đồng thời, tác giả hệ thống hóa lịch sử điều tra thực vật tại Bến En qua các mốc: Lê Mộng Chân (1991: 462 loài), Nguyễn Hữu Hiến (1995: 597 loài), Lê Vũ Khôi (1996), Frontier-Việt Nam (1997: 748 loài) và Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Bắc Trung Bộ (1997–2000: 1.357 loài, xác định 33 loài quý hiếm).
Chương 3: Đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết danh pháp, phân loại học của 3 loài nghiên cứu, địa bàn Sông Chàng (tiểu khu 616 và 619). Tác giả mô tả chi tiết quy trình chuẩn bị trang thiết bị (máy GPS, địa bàn, thước bắn cao độ, thước kẹp kính), kỹ thuật lập tuyến sơ thám, thiết kế OTC diện tích $1.000\text{ m}^2$, quy trình đo đếm ô 7 cây của Thomasius, quy cách ô dạng bản tái sinh dưới tán ($16\text{ m}^2$) và quanh gốc cây mẹ ($4\text{ m}^2$), cùng thuật toán xác định công thức tổ thành và diện tích dinh dưỡng.
Chương 4: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương này phác thảo toàn diện địa bàn VQG Bến En (tọa độ $19^\circ 28' - 19^\circ 41'\text{B}$, $105^\circ 20' - 105^\circ 35'\text{Đ}$):
- Điều kiện tự nhiên: Địa hình chia làm 3 kiểu: núi thấp (đỉnh Đàm cao nhất 497 m, dốc $25^\circ - 30^\circ$), đồi thoải (dốc $15^\circ - 20^\circ$) và hồ/thung lũng (hồ Sông Mực rộng 2.000–3.000 ha, tích trữ nước tưới cho trên 10.000 ha đất nông nghiệp). Khí hậu nhiệt đới trung du: nhiệt độ trung bình năm $23,3^\circ\text{C}$ (cực đại $41,7^\circ\text{C}$, cực tiểu $3,1^\circ\text{C}$), lượng mưa trung bình $1.790\text{ mm/năm}$ (90% rơi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11), chịu ảnh hưởng 19–22 ngày gió Lào khô nóng. Thổ nhưỡng gồm đất feralit đỏ vàng trên đá pha sét (11.438 ha), đất phù sa (310 ha), feralit nâu trên macma kiềm (106 ha) và đất phong hóa trên núi đá vôi. Thảm thực vật gồm 8 kiểu thảm chính, trong đó rừng kín thường xanh núi đất thứ sinh chiếm diện tích lớn nhất (6.242 ha; 37,5%). Khu hệ động vật có 91 loài thú, 261 loài chim, 54 loài bò sát, 31 loài ếch nhái, 68 loài cá và 499 loài côn trùng.
- Kinh tế - xã hội: Vùng đệm có 41.516 nhân khẩu (8.023 hộ; 50,2% dân tộc Kinh, 27,1% dân tộc Thái, 10,8% dân tộc Mường, 7,6% dân tộc Thổ), mật độ bình quân 57 người/$\text{km}^2$, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 2,9%/năm. Bình quân lương thực quy thóc đạt 235 kg/người/năm, đời sống nhân dân còn khó khăn, phụ thuộc lớn vào việc khai thác lâm sản.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả
Chương 5 là nội dung trọng tâm của khóa luận:
- Phân bố và mật độ: Trên 10,6 km tuyến điều tra, Lim xanh có mật độ cao nhất (4,55 cây/km; 48 cây bắt gặp, gồm 45 cây ở núi đất và 3 cây ở núi đá); Chò chỉ đạt 1,04 cây/km (11 cây bắt gặp: 7 cây núi đất, 3 cây thung lũng, 1 cây núi đá); Sao hải nam có mật độ thấp nhất (0,75 cây/km; 8 cây bắt gặp, toàn bộ ở sinh cảnh núi đất tiểu khu 619).
- Đặc điểm hình thái, vật hậu:
- Lim xanh: Đường kính $D_{1.3}$ trung bình đạt 21,4 cm (tối đa 36 cm), chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ đạt 12,85 m, hoa nở tháng 3–5, quả chín tháng 10 đến tháng 1 năm sau, chu kỳ sai quả 2–3 năm.
- Chò chỉ: Đường kính $D_{1.3}$ trung bình 22,4 cm (tối đa 50 cm), chiều cao $H_{vn}$ đạt 17,45 m ($H_{dc}$ đạt 8,38 m), hoa nở tháng 5–6, quả chín tháng 7–8, chu kỳ ra quả 4–5 năm một lần.
- Sao hải nam: Đường kính $D_{1.3}$ trung bình 28,3 cm (tối đa 40 cm), chiều cao $H_{vn}$ đạt 16,95 m ($H_{dc}$ đạt 11,45 m), hoa nở tháng 8–9, quả chín tháng 2–3 năm sau.
- Loài đi kèm và không gian dinh dưỡng: Không gian dinh dưỡng trung bình ($S_{dd}$) của Chò chỉ lớn nhất ($42,54\text{ m}^2$), tiếp theo là Lim xanh ($35,74\text{ m}^2$) và Sao hải nam ($32,59\text{ m}^2$).
- Cấu trúc tầng cây gỗ trong lâm phần: Khóa luận lập công thức tổ thành tầng cây gỗ cho 3 lâm phần:
- Lâm phần Lim xanh (46 loài, 111 cây): CTTT là $2,52Lxa + 1,08Sau + 0,54Chc + 0,54Nhll - 0,45Gtr - 0,45Trc - 0,36Thmg - 0,27De + 3,87Lkh$. Lim xanh chiếm ưu thế rõ nét; ưu hợp Lim xanh - Sau sau là kiểu ưu hợp điển hình của VQG.
- Lâm phần Chò chỉ (31 loài, 70 cây): CTTT là $1,43Dh + 1,29Choc + 0,86Cal + 0,71Dpt + 0,57Oro - 0,43Chod - 0,43Gtr - 0,43Lmc + 3,86Lkh$ (Đỉnh hương chiếm tỷ lệ cao nhất, Chò chỉ đứng thứ hai).
- Lâm phần Sao hải nam (28 loài, 67 cây): CTTT là $1,49Shn + 1,34Lxa + 0,75Chc + 0,6Lxe - 0,45Sl - 0,45Nga - 0,45Trc + 4,48Lkh$ (Sao hải nam và Lim xanh là hai loài ưu thế đứng đầu).
- Đặc điểm tái sinh và giải pháp bảo tồn: Tác giả phân tích cấu trúc tái sinh dưới tán và quanh cây mẹ, đánh giá tác động của sinh kế vùng đệm, từ đó xây dựng 4 nhóm giải pháp: kỹ thuật lâm sinh (bảo tồn nguyên vị khoanh nuôi bảo vệ, bảo tồn chuyển vị xây dựng vườn thực vật và gieo ươm cây con), kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách và tăng cường thực thi pháp luật kiểm lâm.
Chương 6: Kết luận - Tồn tại - Khuyến nghị
Chương cuối tóm tắt các phát hiện về mặt phân bố, hình thái, cấu trúc sinh thái và quan hệ loài đi kèm; chỉ ra những hạn chế khách quan về chu kỳ vật hậu dài ngày và thời gian nghiên cứu hạn hẹp; đề xuất khuyến nghị tăng cường tuần tra tại tiểu khu 616, 619 và tiếp tục các đề tài thực nghiệm nhân giống sinh dưỡng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận thu thập và lượng hóa hệ thống chỉ tiêu lâm học thực địa của 3 loài cây quý hiếm tại VQG Bến En. Dữ liệu tổng hợp phản ánh rõ qua bảng sau:
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
Lim xanh (Erythrophloeum fordii) |
Chò chỉ (Parashorea chinensis) |
Sao hải nam (Hopea hainanensis) |
| Số cá thể ghi nhận trên tuyến |
48 cây (45 núi đất, 3 núi đá) |
11 cây (7 núi đất, 3 thung lũng, 1 núi đá) |
8 cây (100% núi đất) |
| Mật độ phân bố bình quân |
4,55 cây/km |
1,04 cây/km |
0,75 cây/km |
| Đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$ TB) |
21,4 cm (dao động 14 – 36 cm) |
22,4 cm (dao động 8 – 50 cm) |
28,3 cm (dao động 15 – 40 cm) |
| Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$ TB) |
12,85 m (dao động 9 – 18 m) |
17,45 m (dao động 11,5 – 23 m) |
16,95 m (dao động 9 – 23 m) |
| Chiều cao dưới cành ($H_{dc}$ TB) |
7,60 m (dao động 5 – 11 m) |
8,38 m (dao động 4,5 – 14,5 m) |
11,45 m (dao động 6,5 – 18 m) |
| Đường kính tán lá ($D_t$ TB) |
5,60 m (dao động 3 – 8 m) |
3,33 m (dao động 2,5 – 6 m) |
3,92 m (dao động 2,5 – 3,75 m) |
| Không gian dinh dưỡng ($S_{dd}$ TB) |
$35,74\text{ m}^2$ |
$42,54\text{ m}^2$ |
$32,59\text{ m}^2$ |
| Khoảng cách cây lân cận (Max / Min) |
7,0 m / 1,0 m |
8,0 m / 1,5 m |
8,0 m / 1,5 m |
| Loài đi kèm ưu thế hàng đầu |
Trám chim, Chân chim, Sùm che |
Thị chín tầng, Cà lồ, Khổng |
Trám chim, Lim xanh, Chân chim |
| Hệ số tổ thành loài trong lâm phần |
Đứng đầu ($k_i = 2,52$) |
Đứng thứ hai ($k_i = 1,29$) |
Đứng đầu ($k_i = 1,49$) |
Về mặt đóng góp giải pháp, tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật:
- Bảo tồn nguyên vị (in-situ): Bảo vệ nghiêm ngặt các lâm phần còn cây mẹ tại tiểu khu 616 và 619; áp dụng các biện pháp lâm sinh xúc tiến tái sinh tự nhiên (phát dọn dây leo, mở tán cục bộ để hỗ trợ cây con ưa sáng sau giai đoạn non chịu bóng).
- Bảo tồn chuyển vị (ex-situ): Thu hái hạt giống từ các cây mẹ phẩm chất tốt đã xác định tọa độ; hoàn thiện quy trình gieo ươm cây con tại vườn ươm VQG; đưa cây con vào trồng bổ sung tại vườn thực vật và trồng rừng thực nghiệm phục hồi sinh thái.
- Giải pháp chính sách và xã hội: Gắn công tác bảo vệ rừng với ổn định sinh kế cho 8.023 hộ gia đình vùng đệm; lồng ghép các chương trình giao đất khoán rừng (Dự án 661); hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp (dứa, mía, cây ăn quả) để giảm áp lực khai thác gỗ rừng.
- Thực thi pháp luật: Tăng cường chốt chặn, tuần tra cơ động tại các lối mòn dẫn vào khu vực Sông Chàng nhằm ngăn chặn triệt để hành vi đốn hạ Lim xanh và các loài gỗ quý.
Khóa luận đóng góp nguồn số liệu định lượng về cấu trúc tổ thành và diện tích dinh dưỡng thực tế của ba loài tại Bến En, làm sáng tỏ tính quần sinh của Lim xanh (xuất hiện trong công thức tổ thành của chính nó và cả lâm phần Sao hải nam), tạo cơ sở xác định cự ly mật độ trồng rừng hỗn giao bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu ngoại nghiệp ngắn, chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ vật hậu học (đặc biệt là giai đoạn ra hoa, kết quả của Chò chỉ có chu kỳ cách nhau 4–5 năm và Sao hải nam có chu kỳ 2–3 năm).
- Dữ liệu quả, hoa của Chò chỉ và Sao hải nam chủ yếu phải kế thừa tài liệu thực vật học đã xuất bản do thời điểm điều tra không trùng với mùa ra hoa/quả chín ngoài thực địa.
- Phạm vi nghiên cứu mới khu biệt tại tiểu khu 616 và 619 thuộc khu vực Sông Chàng, chưa bao quát toàn bộ 16 tiểu khu của VQG Bến En.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hình:
- Mở rộng phạm vi điều tra phân bố của 3 loài trên toàn diện tích 16.634 ha của vườn.
- Tiến hành các thí nghiệm chuyên sâu về nhân giống vô tính (giâm hom bằng các chất điều hòa sinh trưởng như IBA theo các công trình đã thử nghiệm trên Bách xanh và Hoàng đàn giả).
- Thiết lập các ô định vị theo dõi động thái sinh trưởng, tỷ lệ sống và quy luật biến động tầng cây tái sinh dưới tán rừng tự nhiên qua nhiều năm.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ kỹ thuật thuộc các chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Bảo tồn đa dạng sinh học.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao gồm:
- Quy trình áp dụng phương pháp ô 7 cây của Thomasius để định lượng không gian dinh dưỡng ($S_{dd}$) và xác định nhóm loài cây đi kèm, phục vụ thiết kế cơ cấu loài cho các dự án trồng rừng bản địa hỗn giao.
- Bộ số liệu đo đếm kích thước thân cây thực tế ($D_{1.3}$, $D_t$, $H_{vn}$, $H_{dc}$) và công thức tổ thành tầng cây gỗ của lâm phần tự nhiên tại VQG Bến En, cung cấp dữ liệu cơ sở cho công tác quy hoạch phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Câu hỏi thường gặp
1. Mật độ phân bố tự nhiên của ba loài nghiên cứu dọc theo các tuyến điều tra tại VQG Bến En chênh lệch như thế nào?
Kết quả điều tra trên 10,6 km tuyến cho thấy sự chênh lệch rõ rệt: Lim xanh có mật độ cao nhất đạt 4,55 cây/km (48 cây), phân bố chủ yếu ở núi đất (45 cây, chiếm 93,75%); Chò chỉ đạt mật độ 1,04 cây/km (11 cây, gặp ở cả núi đất, núi đá và thung lũng); Sao hải nam có mật độ thấp nhất đạt 0,75 cây/km (8 cây, chỉ bắt gặp ở dạng địa hình núi đất tại khu vực Rừng giống tiểu khu 619).
2. Kích thước thân cây trung bình và diện tích không gian dinh dưỡng của Lim xanh tại khu vực nghiên cứu đạt bao nhiêu?
Khảo sát 10 cây Lim xanh trưởng thành cho thấy: đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) trung bình đạt 21,4 cm (cây lớn nhất 36 cm, nhỏ nhất 14 cm); chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) trung bình 12,85 m; chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) trung bình 7,6 m; đường kính tán lá ($D_t$) trung bình 5,6 m. Diện tích không gian dinh dưỡng trung bình ($S_{dd}$) của Lim xanh xác định qua ô 6 cây Thomasius đạt $35,74\text{ m}^2$, với khoảng cách đến cây lân cận dao động từ 1,0 m đến 7,0 m (trung bình 4,0 m).
3. Công thức tổ thành tầng cây gỗ của lâm phần có Chò chỉ và Sao hải nam phân bố được xác định như thế nào?
Theo kết quả điều tra ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$, công thức tổ thành tầng cây gỗ được tính toán cụ thể:
- Lâm phần Chò chỉ (31 loài, 70 cây): $1,43Dh + 1,29Choc + 0,86Cal + 0,71Dpt + 0,57Oro - 0,43Chod - 0,43Gtr - 0,43Lmc + 3,86Lkh$ (trong đó Đỉnh hương $Dh$ đứng đầu, Chò chỉ $Choc$ đứng thứ hai).
- Lâm phần Sao hải nam (28 loài, 67 cây): $1,49Shn + 1,34Lxa + 0,75Chc + 0,6Lxe - 0,45Sl - 0,45Nga - 0,45Trc + 4,48Lkh$ (trong đó Sao hải nam $Shn$ đứng đầu, Lim xanh $Lxa$ đứng thứ hai).
4. Chu kỳ sinh học ra hoa, kết quả của Chò chỉ và Sao hải nam diễn ra vào thời gian nào trong năm?
Theo tài liệu tổng quan và điều tra thực tế trong khóa luận: Chò chỉ ra hoa vào tháng 5–6, quả chín vào tháng 7–8, chu kỳ sai quả cách nhau 4–5 năm một lần; Sao hải nam ra hoa vào tháng 8–9, quả chín vào tháng 2–3 năm sau, chu kỳ kết hạt cách nhau từ 2–3 năm.
5. Thiệt hại do khai thác gỗ trái phép đối với loài Lim xanh tại VQG Bến En được tác giả thống kê như thế nào?
Tác giả kế thừa số liệu thống kê quản lý của Vườn Quốc gia Bến En xác nhận: từ năm 2007 đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2011), tại khu vực đã có ít nhất 112 cây Lim xanh bị đốn hạ trái phép với tổng khối lượng gỗ bị khai thác lậu là $110,813\text{ m}^3$.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trịnh Thị Hương đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm phân bố, kích thước hình thái thân cây, không gian dinh dưỡng và cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ của ba loài cây quý hiếm Lim xanh, Chò chỉ và Sao hải nam tại khu vực Sông Chàng, Vườn Quốc gia Bến En. Kết quả định lượng chỉ ra tính ưu thế nổi trội của Lim xanh trong quần xã cùng sự suy giảm mật độ của Sao hải nam và Chò chỉ dưới áp lực sinh kế của dân cư vùng đệm. Công trình cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ việc hoạch định phương án khoanh nuôi bảo vệ nguyên vị và thiết kế các mô hình lâm sinh phục hồi nguồn gen thực vật bản địa nguy cấp tại địa phương.