Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Phân loại và phân bố chi Mahonia trên thế giới 1. Phân loại Hoàng liên ô rô – còn gọi là cây Mật gấu, Mã hồ, Hoàng bá gai, Thích hoàng bá, Thập đại công lao.
có tên khoa học là Mahonia nepalensis DC. thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), bộ Mao lương (Ranunculales). Theo Ying Junsheng (2001), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) có 17 chi và khoảng 650 loài, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới phía Bắc và vùng miền núi á nhiệt đới. Riêng ở Trung Quốc, có tới 11 chi và 303 loài.
Chi Mahonia có gần 60 loài, phân bố ở Đông Á và Đông Nam Á, phía Tây của Bắc Mỹ, vùng Trung Mỹ, và phía Tây của Nam Mỹ. Trong hệ thống phân loại, Hoàng liên ô rôđược xếp như sau: Kingdom: Giới Plantae Division: Ngành Magnoliophyta Class: Lớp Magnoliopsida Order: Bộ Ranunculales Mao lương Family: Họ Berberidaceae Hoàng liên gai Genus: Chi Mahonia Species: Loài Mahonia nepalensis DC. Hoàng liên ô rô Tên khoa học đầy đủ của Hoàng liên ô rôlà Mahonia napaulensisDe Candolle, Syst. Thường gọi là Mahonia nepalensis DC.
hoặc Mahonia nepaulensis DC. Tên Tiếng Anh là Nepaul Barberry, tiếng Ấn Độ là Dieng-niangmat, tiếng Trung Quốc là Ni bo er shi da gong lao. Phân bố của chi Mahonia và loài Hoàng liên ô rô Chi Mahonia bao gồm khoảng 60 loài cây bụi, gỗ nhỏ thường xanh. Chi này có quan hệ chặt chẽ với chi Berberis.
Chính vì vậy, nhiều nhà thực vật 4 học không tán thành việc chấp nhận tên chi Mahonia nên đã xếp chi Mahonia vào cùng với chi Berberis vì một số loài thuộc hai chi này có thể lai giống với nhau. Tuy nhiên, chi Mahonia có lá kép lông chim lớn dài từ 10-50 cm, với từ 5-15 lá chét và hoa mọc thành các cành (dài từ 5-20 cm). Tên chi Mahonia được đặt theo Bernard McMahon (1775-1818), một người làm vườn ở Philadelphia, Hoa Kỳ. Phân bố Hoàng liên ô rôở một số quốc gia châu Á: + Trung quốc: Theo Ying Junsheng (2001), ở Trung Quốc có tới 31 loài thuộc chi Mahonia, trong đó loài Hoàng liên ô rô(M.) xuất hiện ở trong rừng rậm, bìa rừng hoặc trong các bụi cây ở độ cao từ 1200-3000 m.
Phân bố ở tỉnh Hồ Nam, Nam Tứ Xuyên, Đông Tây Tạng và tỉnh Vân Nam. + Bhutan: Theo Chhetri (1989), ở Bhutan, M. phân bố ở độ cao 1500-2400m, gần những dòng suối nhỏ, dưới những cây bụi khác. Thời kỳ ra hoa từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
+ Ấn Độ và Nepal: Phân bố ở những khu vực núi cao trên 1500m. là cây cho hoa màu vàng, mọc thành cành khá đẹp nên được gây trồng làm cảnh ở nhiều nơi. Mặc dù loài cây này chỉ có phân bố tự nhiên ở một số nước Châu Á (Trung Quốc, Nê-pan, Việt Nam) nhưng nó đã được gây trồng ở nhiều nơi khác ở Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia và Myanmar), Sri-Lanka và một số nước ngoài châu Á như Úc và miền Nam Châu Âu. Thực tế đã cho thấy, việc cung cấp thực vật cho dược phẩm truyền thống không thỏa mãn được nhu cầu (Cunningham, 1993).
Do vậy, một giải pháp thay thế thích hợp nhất cho những vấn đề mà ngành công nghiệp dược đang phải đối mặt đó là phát triển hệ thống nuôi In Vitro nhằm đáp ứng nhu cầu về dược thảo và các chất tiết của nó (Nalawade et al, 2004). Cùng với sự phát triển của công nghê sinh học, việc nhân giống các loài cây dược liệu bằng 5 phương pháp In Vitro đã được nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan,. tiến hành và đã đem lại kết quả đáng khích lệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của việc sản xuất dược liệu (Arora, 1989). Trong tương lai, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người và sự phát triển của xã hội, nhằm chống lại các bệnh nan y thì cần thiết có sự kết hợp giữa Đông và Tây y, giữa y học hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền dân tộc.
Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các lại cây thuốc là điều hết sức cần thiết. Việc sử dụng loài cây Hoàng liên ô rô làm thuốc * Trên thế giới Hoàng liên ô rô là cây dược liệu dùng để chữa bệnh. Tác dụng trị bệnh đã được ghi trong bộ sách Thần nông bản thảo của Trung Quốc như một loại thuốc được xếp vào hàng thương phẩm. Ở Trung Quốc, người ta cũng dùng lá, thân và quả của một loài tương tự có tên khoa học là Mahonia bealei (Fort) Carr.
gọi là Khoát diệp thập đại công lao hay Thổ hoàng bá để làm thuốc chữa bệnh (Xiuhong Ji et al. Các bộ tộc Khasi và Garo của Meghalaya (Ấn Độ) đã sử dụng vỏ cây tươi của Hoàng liên ô rôép lấy dịch, rồi pha loãng với nước, dùng như thuốc nhỏ mắt cho nhiều bệnh mắt khác nhau (Rao, 1981). Người dân địa phương còn thường dùng chữa lỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt. Bộ phận thường được sử dụng nhiều là vỏ cây (Laloo R.
Trong đó, quả và vỏ loài cây Mahonia nepaulensis có thể chế thành dạng nước ép để chữa bệnh đi ngoài và bệnh lỵ. Ngoài ra còn có hai loài cây khác cùng họ Berberidaceae là Berberis aristata DC. (Ban marpasi) và Berberis asiatica Roxb. (Marpasi) đều có thể tạo ra nước ép để chữa bệnh đau dạ dày và cũng được cộng đồng này khai thác.
6 * Tại Việt Nam Bô ̣ phâ ̣n dùng làm thuố c là Thân và rễ cây. Thân mâ ̣t gấ u có màu vàng đă ̣c trưng và có vi đắ ̣ ng, rấ t tố t cho gan. Cách chế biến và thu hái: là cây gỗ sống lâu năm, nên cây đươc thu hái quanh năm. Vào những ngày nắng, người dân chọn những cây thẳng, ít nhánh sau đó chặt bỏ những cành nhỏ rồi tiến hành phơi khô nguyên cây hoặc thái miếng mỏng phơi khô để làm thuốc.
Cách sử dụng Cây Mật Gấu - Ngâm rượu: Cây mật gấu còn được dùng phổ biến để ngâm rượu. Cây này rửa sạch rồi chẻ nhỏ ra đủ kích cỡ lọt bình ngâm là đc (bằng ngón tay), phơi khô, trc khi ngâm vào rượu trong bình mình có điều kiện rửa qua bằng rượu là tốt nhất, rượu ngâm sau 1 thời gian chuyển sang màu vàng tùy đậm đặc mà màu rượu vàng mức độ nào, tùy độ đặc mà người uống khi rót rượu từ bình ra khi uống có thể pha thêm rượu ở ngoài, điều trị các triệu chứng về rối loạn tiêu hoá, đường ruột, tê thấp, ngâm với rượu có tác dụng rất tốt. Cách ngâm rượu cây mật gấu : Chuẩn bị: tỷ lệ 2 lít rượu ngâm với 0.2 kg rễ (hoặc thân) cây mật gấu Các bước: a) Bước 1 + Rễ (thân) cây mật gấu được rửa sạch, chẻ nhỏ sao cho có thể cho vừa bình ngâm rượu, đem phơi khô. b) Bước 2 Cho rượu và rễ (thân) cây mật gấu vào trong bình ngâm, sau khoảng 15 ngày đến 1 tháng là có thể đem ra dùng được.
Rượu có màu vàng rất đẹp, màu sắc đậm, nhạt tùy thuộc vào số tỷ lệ cây mật gấu trên số lượng rượu dùng để ngâm. Rượu uống có vị đắng, nhưng uống quen rất thích. Nếu rượu đậm quá có thể pha thêm rượu để dùng. 7 - Sắc nước uống: Cắt lát nhỏ, cho vào nồi đun sôi khoảng 15 phút, uống hàng ngày có tác dụng mát gan, giải độc và giã rượu.
Việc sắc cây mật gấu làm nước uống vừa đơn giản lại có nhiều tác dụng vì vậy thiết nghĩ có thể phổ biến thành thức uống hàng ngày hơn nữa lại có lợi cho sức khỏe. Kỹ thuật nhân giống và gây trồng Ở Bắc Mỹ, Úc và một số nước Châu Âu sử dụng các loài cây khác thuộc chi Mahonia (họ Berberidaceae) có hình thái gần giống với Hoàng liên ô rôtrồng làm cảnh. Chẳng hạn ở Mỹ, nhiều loài cây thuộc chi Mahonia như là M. được trồng làm cảnh xung quanh tường nhà, bờ rào hoặc các khoảng trống giữa các sân trường.
Một số loài về mùa đông lá chuyển mầu đỏ rất đẹp và tồn tại qua mùa đông. Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về cây dược liệu nói chung và Hoàng liên ô rô trên thế giới đã cho thấy việc bảo vệ và phát triển cây dược liệu đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm. Tuy nhiên, mỗi nước, mỗi vùng lại có cách làm riêng. Trên thế giới, đặc biệt là vùng ôn đới, một số loài cây thuộc chi Mahonia được nghiên cứu khá kỹ, trong đó có cả việc nghiên cứu kỹ thuật gây trồng; nhiều nơi đã sử dụng những loài cây này trồng làm cảnh.
Trong khi đó, các nghiên cứu về Hoàng liên ô rôlại rất hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật nhân trồng. Các kỹ thuật đã có trên thế giới rất khó để áp dụng vào điều kiện Việt Nam bởi sự khác biệt về loài cây và điều kiện sống. Vì vậy, việc nghiên cứu kỹ thuật gây trồng Hoàng liên ô rô ở nước ta là một việc làm rất cần thiết và cấp bách bởi loài cây này đã được xếp hạng nguy cấp (EN A1c,d), đang đứng trước nguy cơ rất lớn sẽ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong tương lai gần (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Một số công trình nghiên cứu về thành phần berberin cũng như phương pháp chiết xuất berberin trong các loài cây thuộc họ Hoàng liên gai (hoàng liên chân gà, hoàng liên gai) nói chung và cây Hoàng liên ô rôđã được thực 8 hiện.
Berberin là hoạt chất có trong nhiều loài cây như: Hoàng liên (Coptis teeta), Hoàng liên gai (Berberis sp.), Hoàng liên ô rô(Mahonia spp.Trong y học dùng berberin làm thuốc chữa ỉa chảy, đau mắt, viêm ruột. Ngoài ra, người ta còn dùng làm thuốc cầm máu trong sản phụ sau khi sinh nở, chữa viêm túi mật, đặc biệt là tác dụng tốt với bệnh sỏi mật. Trong kỹ nghệ người ta còn dùng berberin để tạo chất màu làm thuốc nhuộm, hoặc làm chất tạo màu trong gia vị và trong đồ uống có cồn và trong các lĩnh vực khác Trong thân và rễ cây Vàng đắng (Coscinium usitatum Pierre) hàm lượng berberin rất cao, ở nước ta đây là nguồn nguyên liệu rất quý để chiết xuất berberin. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về phương pháp chiết xuất berberin từ cây Vàng đắng như phương pháp chiết của Phạm Viết Trang, phương pháp chiết berberin bằng áp lực nóng của Nguyễn Liêm và nhiều quy trình khác nữa.
Tuy nhiên, các quy trình chiết này vẫn còn một số nhược điểm như: kéo dài thời gian, tốn nhiều dung môi, hoá chất. và chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ việc chiết xuất berberin từ cây Hoàng liên ô rô.