Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu đặc điểm phân bố và thực trạng bảo tồn loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Văn Minh (ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp) dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thanh Hà vào năm 2018.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Chi Hoa tiên (Asarum L.) thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) gồm các loài cỏ lâu năm phân bố hẹp ở vùng rừng núi cao, thường mọc dưới tán rừng kín thường xanh ẩm hoặc ven khe suối. Tại Việt Nam, chi này có 7 loài, trong đó 3 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1996, 2007) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ gồm: Biến hóa núi cao (Asarum balansae Franch. - cấp EN), Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance - cấp VU) và Hoa tiên (Asarum glabrum Merr. - cấp VU). Loài Hoa tiên là loài đặc hữu của khu vực Đông Dương, có giá trị dược liệu cao (dùng thân rễ chữa ho, đau bụng, bồi bổ thể lực, lá tươi đắp chữa sai khớp).

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên Hoa tiên ngoài tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ suy giảm quần thể nghiêm trọng (ước tính khoảng 20%) do tình trạng phá rừng nguyên sinh, suy thoái sinh cảnh sống và hoạt động thu hái thương mại tự phát để bán sang Trung Quốc. Tại xã Nậm Giải (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) - khu vực thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt giáp biên giới Lào, loài Hoa tiên phân bố tự nhiên nhưng chưa từng có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đặc điểm phân bố sinh thái cũng như hiện trạng quản lý bảo tồn, gây khó khăn lớn cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển bền vững nguồn gen.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học cho loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) tại khu vực nghiên cứu, góp phần phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài thực vật rừng quý hiếm tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định vị trí phân bố và một số đặc điểm lâm phần nơi loài Hoa tiên xuất hiện tại xã Nậm Giải.
    2. Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác, sử dụng và gây trồng loài Hoa tiên tại địa phương.
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm bảo tồn, phát triển bền vững loài cây này.

Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào 3 nội dung nghiên cứu chính:

  1. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) theo địa hình và đặc điểm cấu trúc lâm phần tại xã Nậm Giải.
  2. Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, tình hình khai thác, sử dụng và gây trồng loài Hoa tiên tại địa bàn xã.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển loài Hoa tiên tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) trong tự nhiên và các nhân tố sinh thái lâm phần đi kèm.
  • Phạm vi không gian: Các tiểu khu rừng (tập trung tại tiểu khu 91 và 94) thuộc địa bàn xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An (nằm trong phạm vi quản lý của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào điều kiện địa hình (độ cao, độ dốc, hướng phơi), các chỉ tiêu cấu trúc lâm phần (độ tàn che, độ che phủ, tầng cây cao, cây tái sinh, thảm tươi cây bụi, thành phần cơ giới đất) và thực trạng kinh tế - xã hội liên quan đến bảo tồn loài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu dựa trên cơ sở phân loại học thực vật và sinh thái học quần xã rừng nhiệt đới:

  • Tình trạng phân loại và bảo tồn: Căn cứ Sách Đỏ Việt Nam (phần Thực vật, 2007), Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, cùng các tài liệu phân loại của Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Tiến Bân (2003) và Võ Văn Chi (2003). Về mặt hóa sinh, đề tài kế thừa các dẫn liệu của Trần Huy Thái (2010) xác định 31 hợp chất trong tinh dầu lá và thân Hoa tiên với thành phần chính là Safrol (chiếm 42,4%).
  • Lý thuyết cấu trúc lâm phần: Đánh giá mối quan hệ giữa loài thân thảo chịu bóng dưới tán (Asarum glabrum) với cấu trúc đa tầng tán của rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.

Phương pháp nghiên cứu thực địa

Tác giả kết hợp phương pháp điều tra thực địa theo tuyến và phương pháp ô tiêu chuẩn:

  • Điều tra theo tuyến: Thiết lập 3 tuyến khảo sát đại diện qua các dạng sinh cảnh rừng:
    • Tuyến 1: Từ Trạm quản lý bảo vệ rừng Nậm Giải đi Huối Lĩnh.
    • Tuyến 2: Khu vực Huối Càng Cõi.
    • Tuyến 3: Từ Trạm quản lý bảo vệ rừng Nậm Giải theo đường tuần tra lên tiểu khu 94.
    • Quy cách điều tra: Dọc theo tuyến, định kỳ mỗi cự ly 200 m rẽ sang trái hoặc phải 50 m để mở rộng phạm vi tìm kiếm cá thể; định vị điểm bắt gặp bằng máy định vị GPS cầm tay.
  • Điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Tại các vị trí bắt gặp loài ở các trạng thái rừng khác nhau, thiết lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình hình chữ nhật có diện tích 1.000 m² (40 m × 25 m), cạnh dài đặt theo đường đồng mức.
  • Điều tra ô dạng bản (ODB): Trong mỗi OTC 1.000 m², bố trí 5 ODB diện tích 20 m² (5 m × 4 m) tại 4 góc và 1 ô ở tâm để đo đếm đặc điểm tầng cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi và độ che phủ.

Công cụ và phương pháp thu thập chỉ tiêu lâm sinh

  • Độ cao, tọa độ: Xác định bằng máy định vị GPS.
  • Độ dốc, hướng phơi: Đo bằng địa bàn cầm tay kết hợp ứng dụng Angle Meter Pro trên điện thoại thông minh.
  • Độ tàn che: Xác định bằng ứng dụng GLAMA (chụp ảnh tán rừng thẳng đứng).
  • Độ che phủ mặt đất: Xác định bằng phần mềm phân tích hình ảnh tán Canopeo.
  • Chỉ tiêu tầng cây cao: Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao Blum-Leiss; đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính hoặc thước dây; đo đường kính tán ($D_t$) theo hai chiều trực giao.
  • Thành phần cơ giới đất: Đánh giá nhanh tầng đất mặt bằng phương pháp nặn/xoe con giun (phân cấp: đất cát, cát pha, thịt nhẹ, thịt trung bình, thịt nặng, đất sét).

Phương pháp điều tra xã hội học và nội nghiệp

  • Phỏng vấn bán cấu trúc: Thực hiện phỏng vấn 10 đối tượng trên địa bàn (gồm 6 nông dân bản địa am hiểu nghề thuốc tại Bản Pục và Bản Piềng Lâng, 1 cán bộ xã, 3 cán bộ/kiểm lâm Trạm Nậm Giải).
  • Xử lý số liệu:
    • Tính mật độ loài: $N = (N_0 \times 10.000) / S_0$ (cây/ha).
    • Công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh: Xác định theo tỷ lệ số cá thể loài $i$ ($X_i$) so với tổng số cá thể ($N$) với điều kiện $X_i \ge \bar{X}$ (số cá thể trung bình 1 loài), biểu thị dưới dạng hệ số nguyên: $K_1 A_1 + K_2 A_2 + ... + K_n A_n + LK$.
    • Ứng dụng phần mềm MapInfo kết hợp bản đồ hiện trạng rừng số hóa của xã Nậm Giải để xây dựng bản đồ phân bố không gian của loài.
    • Mẫu thực vật được xử lý, bảo quản ẩm và giám định đối chiếu theo kỹ thuật làm tiêu bản của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007) cùng các tài liệu thực vật chí.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các dẫn liệu sinh thái học của chi Asarum L. (khoảng 90 loài trên toàn cầu, trung tâm đa dạng tại Đông Á và Đông Nam Á; riêng Trung Quốc có 39-40 loài). Tác giả làm rõ đặc điểm hình thái và dược tính của loài Asarum glabrum Merr. (cây thảo cao 20-30 cm, thân rễ đốt, hoa đơn độc nâu xám họng tím, mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 6-8). Tổng quan chỉ ra rằng tại Việt Nam, các nghiên cứu về Hoa tiên chủ yếu dừng lại ở mô tả phân loại và phân tích thành phần hóa học tinh dầu bước đầu tại Hà Giang (Trần Huy Thái, 2010), hoàn toàn khuyết thiếu các nghiên cứu định lượng về lâm phần, tái sinh và sinh thái tại khu vực Tây Nghệ An.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết cơ sở thiết kế nghiên cứu thực địa, sơ đồ bố trí 3 tuyến điều tra, quy cách lập 3 OTC 1.000 m² và hệ thống 5 ODB 20 m² trong mỗi OTC. Chương này đưa ra đầy đủ 7 mẫu biểu điều tra chuẩn hóa (từ điều tra tuyến, tầng cây cao, cây tái sinh đến tầng thảm tươi, cây bụi và bảng phỏng vấn cộng đồng).

Chương 3: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại xã Nậm Giải

Phân tích bối cảnh địa bàn nghiên cứu: Xã Nậm Giải nằm ở tọa độ 19°40′48″B, 104°46′22″Đ, có 10,5 km đường biên giới giáp Lào, địa hình núi cao chia cắt mạnh với đỉnh Pù Hoạt (2.452 m), diện tích đồi núi dốc trên 30° chiếm gần 52%. Khí hậu phân hóa mạnh với lượng mưa vùng núi cao đạt trên 2.200 mm/năm, mùa hè chịu gió phơn Tây Nam khô nóng, mùa đông nhiệt độ xuống thấp có thể xuất hiện rét hại. Về kinh tế - xã hội, toàn xã có 1.998 nhân khẩu (464 hộ, 100% đồng bào dân tộc Thái phân bố ở 8 bản), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 70%. Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 11.908,92 ha; trong đó diện tích bị người dân xâm canh làm nương rẫy lên đến 325,8 ha (125,3 ha rừng đặc dụng và 200,5 ha rừng phòng hộ), tạo ra áp lực rất lớn lên hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương này công bố và phân tích toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ 8 điểm phân bố tự nhiên của Hoa tiên, cấu trúc lâm phần tại 3 ô tiêu chuẩn thuộc 2 trạng thái rừng (IIIa1 và IIIa2), kết quả khảo sát tầng cây cao, tầng cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, đồng thời đánh giá thực trạng thu hái, tiêu thụ thương mại, thử nghiệm nhân giống tại nông hộ và đề xuất các giải pháp bảo tồn.


Kết quả và đóng góp

1. Đặc điểm phân bố sinh thái của loài Hoa tiên tại xã Nậm Giải

Qua khảo sát trên 3 tuyến điều tra, tác giả đã phát hiện và xác định tọa độ của loài Hoa tiên tại 8 vị trí thuộc các tiểu khu 91 và 94 (rừng nguyên sinh nghèo kiệt IIIa1 và rừng trung bình IIIa2). Loài không phân bố ở đai thấp mà tập trung ở đai cao từ 565 m đến 920 m, nơi có độ ẩm không khí và độ ẩm đất cao, thảm mục dày, mọc thành từng khóm nhỏ.

Điểm bắt gặp Tọa độ VN-2000 (X/Y) Độ cao tuyệt đối (m) Độ dốc (độ) Hướng phơi Trạng thái rừng
1 E 0473841 - N 2179145 858 31,0 Đông Bắc IIIa2
2 E 0473791 - N 2179144 870 31,5 Đông Bắc IIIa2
3 E 0473768 - N 2178931 920 33,0 Đông Bắc IIIa2
4 E 0475144 - N 2178903 715 31,0 Tây Nam IIIa2
5 E 0475029 - N 2178766 810 30,5 Tây Nam IIIa2
6 E 0481465 - N 2177793 565 29,0 Đông Bắc IIIa1
7 E 0481472 - N 2177803 665 29,5 Đông Bắc IIIa1
8 E 0481467 - N 2177967 705 31,0 Đông Bắc IIIa1

Nhận xét về địa hình: Hoa tiên xuất hiện chủ yếu ở các sườn dốc lớn dao động từ 29° đến 33°. Hướng phơi phân bố ưu thế là sườn Đông Bắc (6/8 điểm), 2 điểm còn lại thuộc hướng Tây Nam.

2. Đặc điểm lâm phần nơi Hoa tiên phân bố

a. Độ tàn che, độ che phủ và thành phần cơ giới đất

STT OTC số Trạng thái rừng Độ tàn che tầng cây cao Độ che phủ thảm tươi (%) Thành phần cơ giới đất
1 1 IIIa2 0,68 75,0 Đất thịt nhẹ
2 2 IIIa2 0,65 65,8 Đất thịt nhẹ
3 3 IIIa1 0,75 85,2 Đất thịt trung bình

Đất tại các điểm có Hoa tiên đều là đất feralit màu nâu vàng, tơi xốp, giàu mùn, ẩm ướt. Độ tàn che tầng cây cao duy trì ở mức khá cao (0,65 - 0,75), phù hợp tuyệt đối với đặc tính sinh thái ưa bóng của loài.

b. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh

OTC Trạng thái Mật độ cây cao (cây/ha) Công thức tổ thành tầng cây cao Công thức tổ thành tầng cây tái sinh
1 IIIa2 380 2,29 Giổi bà + 2,29 SP + 1,71 Dẻ gai + 1,14 Táu mật + 2,57 LK 1,05 Giổi bà + 1,05 Mạy tèo + 7,89 LK
2 IIIa2 400 2,00 Giổi xanh + 1,75 Sến mật + 1,50 Re hương + 1,50 Táu mật + 1,25 SP + 2,00 LK 2,11 Giổi xanh + 1,05 Mé cò ke + 1,05 Côm tầng + 5,79 LK
3 IIIa1 350 1,84 Giổi xanh + 1,32 Mun + 1,32 Sến mật + 1,05 Táu mật + 4,47 LK 1,58 Lim xanh + 1,05 Thành ngạch + 1,05 Thừng mực + 6,32 LK

Tầng cây cao có sự xuất hiện chiếm ưu thế của các loài cây gỗ thuộc họ Ngọc lan (Giổi xanh, Giổi bà), họ Dầu (Táu mật, Sến mật). Tổ thành cây tái sinh có sự tương đồng nhất định với tầng cây gỗ mẹ, đảm bảo độ che bóng ổn định trong tương lai.

c. Chỉ tiêu sinh trưởng trung bình của tầng cây cao

Trạng thái OTC số Mật độ (cây/ha) $D_{1.3}$ trung bình (cm) $H_{vn}$ trung bình (m) $D_t$ tán trung bình (m)
IIIa2 1 380 30,70 14,87 5,09
IIIa2 2 400 33,93 14,95 4,98
IIIa1 3 350 24,00 13,54 5,00
Trung bình - 376 29,54 14,54 5,02

d. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng

OTC số Độ che phủ (%) Chiều cao trung bình $H_{tb}$ (cm) Loài cây bụi, thảm tươi, ngoại tầng chủ yếu Hình thức phân bố của Hoa tiên
1 74,45 52,00 Dong rừng, Hoa tiên, Ráy, Gừng núi, Dương xỉ Phân bố rải rác
2 72,28 56,80 Hoa tiên, Dong rừng, Mua lông, Mây Phân bố rải rác
3 67,48 50,00 Hoa tiên, Dương xỉ, Địa lan, Dong rừng Phân bố thành từng cụm
Trung bình 71,48 52,93 - -

Tầng thảm tươi dưới tán có chiều cao trung bình từ 50,00 đến 56,80 cm, độ che phủ tầng thảo bản đạt từ 67,48% đến 74,45%. Hoa tiên cùng sinh sống và cạnh tranh không gian dinh dưỡng với các loài cây thảo ưa ẩm như Dong rừng, Ráy, Gừng núi, Địa lan và Dương xỉ.

3. Thực trạng khai thác, sử dụng và gây trồng tại địa phương

  • Nhận thức và tình hình sử dụng: Trong 10 người được phỏng vấn, có 6 người (60%) nhận biết được loài Hoa tiên. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loài này làm thuốc chiếm 55%, ngâm rượu bồi bổ sức khỏe chiếm 40%. Người dân thường thu hái quanh năm, rộ nhất vào tháng 5 - tháng 6 (thời điểm cây ra hoa). Lượng thu hái mỗi chuyến đi rừng dao động từ 2 kg đến 5 kg/người.
  • Thương mại hóa: Sản phẩm Hoa tiên thu hái tự nhiên đã được liên kết tiêu thụ bước đầu với Công ty Cổ phần Sản phẩm Tự nhiên DHNATURA và Công ty DK PHARMA.
  • Thực trạng gây trồng: Hoạt động nhân giống, thuần hóa còn rất hạn chế. Toàn xã mới chỉ có 3 hộ gia đình trồng thử nghiệm tại vườn nhà (hộ anh Lô Văn Hưu, anh Ngân Văn Dung và anh Lô Văn Hiếu tại Bản Pục và Bản Piềng Lâng). Kết quả cho thấy cây trồng tại vườn sinh trưởng kém hơn ngoài tự nhiên do đất vườn thiếu độ ẩm và hàm lượng mùn thấp; kỹ thuật chăm sóc tại nông hộ sử dụng bón thúc NPK định kỳ 100 - 200 g/lần vào mùa ra hoa.
  • Yếu tố đe dọa:
    • Tác động tự nhiên: Sạt lở đất do bão lũ (như hoàn lưu bão số 5 năm 2015 gây chia cắt, vùi lấp nhiều diện tích rừng).
    • Tác động nhân sinh: Tình trạng khai thác tận thu cả rễ và thân củ, đốt nương rẫy xâm canh (325,8 ha), làm suy thoái nghiêm trọng sinh cảnh rừng nguyên sinh.

4. Hệ thống giải pháp đề xuất của tác giả

  1. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Tuyên truyền các quy định pháp luật về bảo vệ loài thuộc Danh mục thực vật nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 32/2006/NĐ-CP); nâng cao nhận thức cộng đồng người Thái về kỹ thuật thu hái bảo tồn (chỉ tỉa cành/lá, tránh đào bới tận diệt thân rễ).
  2. Giải pháp bảo tồn tại chỗ (In-situ): Phối hợp chặt chẽ giữa Trạm Quản lý bảo vệ rừng Nậm Giải, Đồn Biên phòng và UBND xã thiết lập các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt tại tiểu khu 91 và 94; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên.
  3. Giải pháp bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ) và phát triển kinh tế: Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm Hoa tiên dưới tán rừng tự nhiên (thay vì trồng trong vườn nhà) nhằm đảm bảo điều kiện vi khí hậu, độ ẩm và thảm mục; liên kết bền vững với các công ty dược liệu (DK PHARMA, DHNATURA) tạo sinh kế thay thế cho người dân.

5. Đóng góp của đề tài

  • Đây là công trình đầu tiên cung cấp hệ thống số liệu định lượng về tọa độ phân bố, đặc điểm lập địa và các chỉ số cấu trúc tầng cây gỗ, tầng cây tái sinh, cây bụi thảm tươi của loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) tại vùng đệm và vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Nghệ An).
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn xác thực về hiện trạng khai thác, buôn bán dược liệu tại địa bàn miền núi giáp biên, hỗ trợ công tác quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Nghiên cứu thực hiện trong giới hạn thời gian và nguồn kinh phí của khóa luận tốt nghiệp đại học, tài liệu thứ cấp về loài tại địa phương còn hạn chế.
    • Số lượng ô tiêu chuẩn điều tra còn ít (3 OTC 1.000 m² và 8 điểm bắt gặp), dung lượng mẫu phỏng vấn xã hội học dừng lại ở 10 phiếu do địa hình núi cao hiểm trở, đi lại khó khăn.
    • Chưa tiến hành phân tích thành phần hoạt chất hóa học chuyên sâu trên các mẫu Hoa tiên thu thập trực tiếp tại xã Nậm Giải.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ các tiểu khu còn lại của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
    • Nghiên cứu sâu về sinh học sinh sản, động thái tái sinh hạt và thử nghiệm các biện pháp nhân giống sinh dưỡng (giâm hom thân rễ, nuôi cấy mô) dưới tán rừng tự nhiên.
    • Định lượng thành phần tinh dầu và hoạt chất Safrol của quần thể Hoa tiên tại Nghệ An để so sánh với các quần thể khác tại miền Bắc.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Dược liệu học.
    • Cán bộ kỹ thuật, lực lượng kiểm lâm tại Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An trong công tác lập hồ sơ theo dõi loài quý hiếm.
    • Các doanh nghiệp và hợp tác xã dược liệu quan tâm đến chuỗi giá trị bảo tồn gắn liền với khai thác bền vững cây thuốc dưới tán rừng.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Quy trình tích hợp các ứng dụng di động (GLAMA, Canopeo, Angle Meter Pro) cùng phần mềm MapInfo để điều tra, đo đếm nhanh các chỉ tiêu lâm sinh và thành lập bản đồ phân bố thực vật rừng.
    • Bộ số liệu chi tiết về công thức tổ thành tầng cây cao, cây tái sinh và đặc tính thổ nhưỡng sinh cảnh loài Asarum glabrum.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Hoa tiên tại xã Nậm Giải phân bố tự nhiên ở độ cao và trạng thái rừng nào?
Qua khảo sát thực tế tại 8 điểm, loài phân bố ở đai cao từ 565 m đến 920 m (điểm cao nhất ghi nhận tại tiểu khu 91 ở độ cao 920 m), tập trung tại hai trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới là rừng nghèo kiệt (IIIa1) và rừng trung bình (IIIa2).

2. Độ tàn che và độ che phủ tầng thảm tươi nơi Hoa tiên sinh trưởng đạt bao nhiêu?
Độ tàn che của tầng cây cao tại các ô tiêu chuẩn dao động từ 0,65 đến 0,75; độ che phủ của tầng cây bụi thảm tươi đạt từ 65,8% đến 85,2% (trung bình toàn lâm phần đạt 71,48%). Hoa tiên thích nghi trên nền đất feralit nâu vàng có thành phần cơ giới từ đất thịt nhẹ đến đất thịt trung bình, ẩm ướt và giàu mùn.

3. Công thức tổ thành tầng cây cao tại các lâm phần có Hoa tiên xuất hiện được xác định như thế nào?
Tại OTC 1 (trạng thái IIIa2): $2,29\text{ Giổi bà} + 2,29\text{ SP} + 1,71\text{ Dẻ gai} + 1,14\text{ Táu mật} + 2,57\text{ LK}$.
Tại OTC 2 (trạng thái IIIa2): $2,00\text{ Giổi xanh} + 1,75\text{ Sến mật} + 1,50\text{ Re hương} + 1,50\text{ Táu mật} + 1,25\text{ SP} + 2,00\text{ LK}$.
Tại OTC 3 (trạng thái IIIa1): $1,84\text{ Giổi xanh} + 1,32\text{ Mun} + 1,32\text{ Sến mật} + 1,05\text{ Táu mật} + 4,47\text{ LK}$.
Mật độ tầng cây cao trung bình đạt 376 cây/ha.

4. Người dân địa phương sử dụng và buôn bán loài Hoa tiên ra sao?
Người dân bản địa sử dụng rễ và thân phơi khô làm thuốc chữa ho, đau bụng; hoa và rễ dùng ngâm rượu bồi bổ cơ thể; lá tươi giã nát đắp chữa sai khớp (chống chỉ định cho phụ nữ mang thai). Mỗi đợt vào rừng thu hái từ 2 kg đến 5 kg/người. Sản phẩm được tiêu thụ qua thương lái và bước đầu kết nối với Công ty Cổ phần Sản phẩm Tự nhiên DHNATURA và Công ty DK PHARMA.

5. Tại sao mô hình trồng thử nghiệm Hoa tiên tại vườn nhà của các hộ dân đạt hiệu quả thấp?
Toàn xã có 3 hộ trồng thử nghiệm tại vườn nhà (anh Lô Văn Hưu, anh Ngân Văn Dung, anh Lô Văn Hiếu). Cây sinh trưởng kém do đất vườn có độ ẩm thấp, tầng mùn mỏng và thiếu độ che bóng tự nhiên so với sinh cảnh ẩm ướt dưới tán rừng nguyên sinh.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Minh đã xác định được các dẫn liệu thực địa quan trọng về 8 điểm phân bố tự nhiên của loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu làm rõ các đặc trưng sinh cảnh của loài: ưa sống dưới tán rừng giàu độ ẩm (IIIa1, IIIa2), độ dốc 29° - 33°, độ cao 565 - 920 m, độ tàn che 0,65 - 0,75 và ưu thế trên đất feralit giàu mùn. Đề tài đồng thời phản ánh bức tranh thực trạng khai thác tự phát, cảnh báo nguy cơ suy giảm nguồn gen do sạt lở và xâm canh nương rẫy, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giữa bảo tồn tại chỗ gắn với phát triển sinh kế trồng dược liệu dưới tán rừng cho cộng đồng bản địa.