MỞ ĐẦU Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới. Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu. của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo-Malaysia.
Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al-1997).
Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam-1995). Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều HST và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Có nhiều nguyên nhân mà loài người là một nguyên nhân tích cực làm biến đổi và đe dọa các hệ sinh thái tự nhiên.
Việc mất rừng, thu hẹp các hệ sinh thái nước có thể dẫn đến tuyệt chủng một số loài và giảm các biến dị di truyền của các loài khác thông qua việc làm mất và làm giảm kích thước quần thể trong khu vực. Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực, Nông nghiệp Liên hợp quốc (1997) về tình trạng rừng thế giới trong vòng 15 năm từ 1980 đến 1995, thế giới đã mất đi 200 triệu ha rừng tự nhiên. Trong giai đoạn 1990 – 1995 , diên tích rừng trên thế giới đã mất đi 56,3 triệu ha bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng. Thực tế diện tích rừng mất đi 65,1 triệu ha ở các nước đang phát triển và chỉ tăng được 8,8 triệu ha ở các nước phát triển.
Diện tích rừng mất trung bình hàng năm la 13,03 triệu ha ở các nước đang phát triển, tương ứng 0,65%. Tốc độ mất rừng lớn nhất ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhiệt đới (0,98% mỗi năm) và thấp nhất ở khu vực còn lại của châu Á – Thái Bình Dương. Xu hướng mất rừng tự nhiên ở các nước đang phát triển là 13,7 triệu ha mỗi năm, tuy đã thấp hơn thời kỳ trước nhưng cũng vẫn còn rất cao. Việc mất hoặc giảm các hệ sinh thái tự nhiên đã gây họa cho chính con người, những trận lũ lụt triền miên diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới.
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ ĐDSH trên thế giới ngày càng trở nên cấp bách, chính là bảo vệ cuộc sống của con người. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là một yêu cầu thực tiễn bức xúc không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Từ lâu, chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do vậy Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế về vấn đề này. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25/8/1998 về tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2005, có hiệu lực chính thức từ ngày 1/7/2006; Luật ĐDSH được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực chính thức từ ngày 1/7/2009.
Hà Nội thủ đô của nước Việt Nam không những giữ vị thế trung tâm chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế mà còn là nơi đang hiện hữu nhiều HST độc đáo tiềm ẩn nguồn tài nguyên sinh vật và ĐDSH phong phú mà ít có Thủ đô nào trên thế giới có được. Hà Nội nằm trong khu vực nội chí tuyến ở vành đai vĩ độ thấp, là vùng chuyển tiếp giữa vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ nên Hà Nội không chỉ có các vùng đất ngập nước rộng lớn mà còn có cả các khu rừng nguyên sinh trên núi Ba Vì, với đỉnh Tản Viên cao 1.281m so với mặt nước biển, nằm bên cạnh dãy núi Hương Tích huyện Mỹ Đức và vùng gò đồi Sóc Sơn. Dẫu rằng vùng núi chỉ chiếm phần nhỏ diện tích tự nhiên của Hà Nội mở rộng, nhưng đó lại là kho tàng tích lũy nhiều nguồn gen thực vật, động vật, vi sinh vật có giá trị kinh tế và bảo tồn, là hành lang xanh cực kỳ quan trọng không những đối với cộng đồng sống, làm việc ở Thủ đô mà cả đối với khách vãng lai, khách du lịch nội địa và quốc tế. Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng ở Hà Nội như hiện nay, thì việc bảo tồn các loài động, thực vật là rất cần thiết và quan trọng.
Bảo tồn ĐDSH tại Hà Nội này không chỉ tạo cảnh quan cho môi trường đô thị mà còn duy trì và phát triển các loài có nguy cơ tuyệt diệt, bên cạnh đó giáo dục cho người dân về vai trò của ĐDSH cũng như ý thức về bảo vệ các loài động, thực vật và môi trường sống. Việc khảo sát, thu thập số liệu về tài nguyên ĐDSH tại một địa điểm, để từ đó tìm ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý là một trong những việc làm thiết thực của công tác bảo tồn ĐDSH. Chính vì vậy, từ việc suy nghĩ đến hành động để bảo tồn phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và ĐDSH ở Hà Nội là góp phần bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường cho một trung tâm đầu não về chính trị văn hoá, khoa học - kỹ thuật và quốc phòng. Chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Tìm hiểu về Đa dạng Sinh học và đề xuất các biện pháp bảo tồn Đa dạng Sinh học của thành phố Hà Nội” Đề tài gồm các mục tiêu chính sau: • Điều tra và đánh giá mức độ ĐDSH của thành phố Hà Nội • Đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH tại Hà Nội góp phần vào công tác bảo tồn ĐDSH, đặc biệt là bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm đang trong tình trạng bị tuyệt chủng, nhằm mục đích cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đa dạng sinh học (ĐDSH) 1. Khái niệm ĐDSH ĐDSH (biodiversity) được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các HST trên cạn, HST trong đại dương và các HST thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Thuật ngữ ĐDSH này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các HST khác nhau.
Thuật ngữ “ĐDSH” được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ “ĐDSH” này. Trong đó, định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: “ĐDSH là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST”.
Nội dung của ĐDSH 1. Đa dạng loài 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau. ĐDSH toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu.
Ước tính đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu. Theo như ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất. Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật. Bảng 1: Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam Số loài đã đƣợc Số loài có Tỷ lệ Nhóm sinh vật xác định ở Việt trên thế giới (%) giữa Nam (VN) (TG) VN/TG 1.
Vi tảo (Micro-algae) Nước ngọt 1. Rong, cỏ Rêu (Moss) Khoảng 20 2. Thực vật bậc cao Khoảng 11. Động vật không xƣơng sống ở nƣớc (Aquaticinvertebrate) Nước ngọt 794 80.
Động vật không xƣơng sống Khoảng 1. Giun sán ký sinh ở gia súc 161 1.000 3,1% 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cá (Fish) Nước ngọt Trên 700 19.000 7,5% Thú biển 25 Nguồn : Cục Bảo vệ Môi trường. Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật, Cục Bảo vệ và Phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản.
Phạm Bình Quyển, 2005 1. Đa dạng di truyền Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể. Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã. Xét cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền.
Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được nhờ chọn lọc. Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất khác nhau của các gen trong tập hợp gen.