Luận văn bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh thái nguyên thực trạng và giải pháp

Tài liệu nghiên cứu Luận văn bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh thái nguyên thực trạng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

93
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1. Mục tiêu chung

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

1.4.1. Ý nghĩa học tập

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.5. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

1.5.1. Phương pháp thu thập số liệu

1.5.2. Phương pháp quan sát

1.5.3. Phương pháp xử lý, phân tích và tổng hợp số liệu

1.5.4. Phương pháp phân tích số liệu

1.5.5. Phương pháp phân tích SWOT

1.6. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NHIỆM VỤ, CHỨC NĂNG CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP

1.6.1. Thời gian

1.6.2. Địa điểm

1.6.3. Nhiệm vụ, chức năng của cơ sở thực tập

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.1.1. Tổng quan về DNVVN

2.1.2. Phân loại DNVVN

2.1.3. Đặc điểm DNVVN

2.1.4. Khái niệm về bảo lãnh

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bảo Lãnh Tín Dụng Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Tại Thái Nguyên

Bảo lãnh tín dụng là một công cụ tài chính quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Tại Thái Nguyên, quỹ bảo lãnh tín dụng được thành lập nhằm giúp các DNVVN tháo gỡ khó khăn trong việc vay vốn, đặc biệt khi họ thiếu tài sản thế chấp. Quỹ này không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.

1.1. Thực Trạng Bảo Lãnh Tín Dụng

Thực trạng bảo lãnh tín dụng tại Thái Nguyên cho thấy, mặc dù quỹ đã hỗ trợ nhiều DNVVN, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các quy trình bảo lãnh chưa được tối ưu, điều kiện bảo lãnh còn khắt khe, và việc thẩm định dự án chưa hiệu quả. Điều này dẫn đến nhiều DNVVN gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.2. Giải Pháp Bảo Lãnh Tín Dụng

Để nâng cao hiệu quả của bảo lãnh tín dụng, cần có các giải pháp bảo lãnh tín dụng cụ thể. Các giải pháp bao gồm cải tiến quy trình bảo lãnh, giảm bớt điều kiện bảo lãnh, và tăng cường đào tạo nhân lực thẩm định dự án. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa quỹ bảo lãnh, ngân hàng, và các DNVVN để đảm bảo nguồn vốn được sử dụng hiệu quả.

II. Tín Dụng Doanh Nghiệp Và Hỗ Trợ Tài Chính

Tín dụng doanh nghiệp là một yếu tố then chốt giúp các DNVVN phát triển. Tại Thái Nguyên, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng bảo lãnh vẫn còn nhiều rào cản. Các DNVVN thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện vay vốn, đặc biệt là yêu cầu về tài sản thế chấp. Điều này đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ các chính sách tín dụng và quỹ bảo lãnh.

2.1. Rủi Ro Tín Dụng

Rủi ro tín dụng là một thách thức lớn đối với các ngân hàng và quỹ bảo lãnh. Việc đánh giá rủi ro không chính xác có thể dẫn đến tổn thất tài chính. Để giảm thiểu rủi ro, cần có các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả, bao gồm việc phân tích kỹ lưỡng hồ sơ vay và tăng cường giám sát sau khi giải ngân.

2.2. Lợi Ích Bảo Lãnh Tín Dụng

Lợi ích bảo lãnh tín dụng không chỉ giúp các DNVVN tiếp cận nguồn vốn mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Quỹ bảo lãnh tín dụng giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho các DNVVN, tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu tư vào công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, và nâng cao năng lực cạnh tranh.

III. Chính Sách Tín Dụng Và Tài Chính Doanh Nghiệp

Chính sách tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các DNVVN. Tại Thái Nguyên, các chính sách hiện tại cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của các DNVVN. Việc cải thiện tài chính doanh nghiệp thông qua các chính sách hỗ trợ và quỹ bảo lãnh sẽ giúp các DNVVN phát triển bền vững.

3.1. Điều Kiện Bảo Lãnh Tín Dụng

Điều kiện bảo lãnh tín dụng cần được xem xét và điều chỉnh để phù hợp hơn với khả năng của các DNVVN. Các điều kiện quá khắt khe có thể làm giảm hiệu quả của quỹ bảo lãnh, trong khi các điều kiện quá lỏng lẻo có thể làm tăng rủi ro tín dụng.

3.2. Quy Trình Bảo Lãnh Tín Dụng

Quy trình bảo lãnh tín dụng cần được tối ưu hóa để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả. Việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan sẽ giúp các DNVVN tiếp cận nguồn vốn nhanh chóng và thuận lợi hơn.

01/03/2025
Luận văn bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh thái nguyên thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Luật DN năm 2014 thì “DN là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường.” DN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hoạch toán tự động, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước, bởi luật DN và các quy định khác của pháp luật. Nói cách khác DN là một đơn vị kinh tế được thành lập và tổ chức sản xuất ra sản phẩm để kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ, kể cả những sản phẩm hàng hóa không do mình làm ra nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường và kết quả thu về là lợi nhuận, tích lũy được vốn để tiếp tục tái đầu tư phát triển kinh doanh ngày càng cao hơn. Loại hình DN nhỏ và vừa phát triển khá phổ biến ở các nước đang phát triển, nhất là ở các nước trong khu vực ASEAN. Ở Việt Nam, nhóm DN này h 6 vị thế quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về DN nhỏ và vừa: Theo hầu hết các nước trên thế giới, DN nhỏ và vừa được định nghĩa là DN có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạt động kinh doanh với số vốn và lực lượng lao động có quy mô nhỏ và trung bình so với các DN có quy mô lớn khác. Ở Việt Nam, DN nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo luật pháp hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 200 người (theo định nghĩa công văn 681/CP – KTN ngàu 20 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) Theo điều 3 của Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DN vừa và nhỏ thì DN vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: DN vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Theo định nghĩa này, các DN vừa và nhỏ ở Việt Nam bao gồm các DN Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa đăng kí kinh doanh theo Luật DN Nhà nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, DN tư nhân có quy mô nhỏ và vừa được đăng kí theo Luật DN, Luật Hợp tác xã, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh cá thể được điều chỉnh bởi quy định của Chính phủ. Theo điều 3 Nghị định số 59/2009/NĐ- CP của Chính phủ ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển DN vừa và nhỏ, thì: ” DN vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” h 7 Tóm lại, DN vừa và nhỏ là những DN có quy mô vừa và nhỏ, xét trên tiêu chí doanh thu, số lượng lao động bình quân hoặc nguồn vốn kinh doanh xét trên các quy tắc phân loại quy mô của các loại hình DN.2 Phân loại DNVVN Ngày 11/3/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/NĐ- CP chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa thay thế cho Nghị định số 56/2009/NĐ- CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của chính phủ về trợ giúp phát triển DN nhỏ và vừa.

Theo đó trong từng lĩnh vực, thay vì việc phân loại DN nhỏ và vừa được căn cứ dựa trên số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và nguồn vốn (trong đó ưu tiên nguồn vốn) thì hiện nay căn cứ dựa trên số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và doanh thu hoặc nguồn vốn (trong đó ưu tiên doanh thu) 1. DN siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. DN siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này DN nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

DN vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN nhỏ, DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. DN vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Đặc điểm DNVVN DN vừa và nhỏ là bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng các DN của một nền kinh tế, nhóm DN này có những đặc điểm cơ bản như: Thứ nhất, DN vừa và nhỏ chiếm đa số trong tổng số DN, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo số liệu được Ủy ban châu Âu (EC) công bố 8/2014, hơn 20 triệu DN vừa và nhỏ ở châu Âu chiếm 99% tổng số DN.

Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các DN vừa và nhỏ tại Mỹ, nhóm DN này chiếm tới 99% tổng số DN, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển DN thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2011), Việt Nam có 543.963 DN, trong đó DN vừa và nhỏ chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội. Thứ hai, DN vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng.

h 9 Thứ ba, DN vừa và nhỏ chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các DN với nhau. Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các DN vừa và nhỏ ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh. Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các DN này thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn. Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% DN vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp.4 Khái niệm về bảo lãnh Bảo lãnh là một thuật ngữ được sử dụng từ lâu đời.

Trong xã hội phong kiến người ta đã biết đến khái niệm lý trưởng và những người có thế lực bảo lãnh cho tù nhân trong thời gian thi hành án, cha mẹ bảo lãnh cho con. Sau đó bảo lãnh được phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội. Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượcg bảo lãnh là: Bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật. Bảo lãnh đối nhân: Được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong dân sự.

Bảo lãnh đối vật: Được áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có yếu tố tài sản. Đó chính là bảo lãnh, một trong các phương thức bảo đảm việc vi phạm hợp đồng. Trong pháp luật dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong điều 366 Bộ luật Dân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền ( gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ( gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà nguời được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. h 10 Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết.” Từ đó ta đưa ra khái niệm chung về bảo lãnh như sau: “ Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghiã vụ và quyền lợi nếu người xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bên yêu cầu bảo lãnh”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bảo Lãnh Tín Dụng Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Tại Thái Nguyên: Thực Trạng Và Giải Pháp là một tài liệu chuyên sâu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tại Thái Nguyên. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về những thách thức mà các SMEs đang phải đối mặt trong việc tiếp cận nguồn vốn mà còn đưa ra các khuyến nghị thiết thực để thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực này. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia tài chính và doanh nghiệp đang tìm kiếm giải pháp tối ưu để mở rộng hoạt động kinh doanh.

Để hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý tín dụng và nguồn vốn, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh phát triển cho vay hộ kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường quản lý của ngân hàng nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu sâu hơn về cơ chế quản lý tín dụng. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh NHNN PTNN quận Tây Hồ sẽ giúp bạn nắm bắt các khía cạnh liên quan đến huy động vốn, một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động tín dụng.