Chương 1: Lý luận và thực tiễn cơ bản về vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ chủ quyền vùng trời quốc gia Chương 2: Thực trạng thông tin về vấn đề bảo vệ chủ quyền vùng trời quốc gia trên báo in quân đội Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề bảo vệ chủ quyền vùng trời quốc gia trên báo in quân đội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VÙNG TRỜI QUỐC GIA 1. Giải thích thuật ngữ 1. Vùng trời quốc gia Điều 1, Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) khẳng định: “Nước CHXHCN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Trong đó, tại Điểm 1 Tuyên bố về vùng trời Việt Nam ngày 05/6/1984 của Chính phủ Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ghi nhận: “Vùng trời của Cộng hòa XHCN Việt Nam là khoảng không gian ở trên đất liền, nội thủy, lãnh hải và các hải đảo Việt Nam và thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Theo Từ điển Thuật ngữ Quân sự (2007): VTQG là khoảng không gian phía trên lãnh thổ đất, đảo, nội thủy, lãnh hải của một quốc gia; bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia là thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt của quốc gia đó. Mỗi nước đều có các quy định pháp lí về VTQG trên cơ sở các nguyên tắc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng và các lợi ích quốc gia, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, có tính đến các nhu cầu về giao lưu hàng không quốc tế, thuế quan, vệ sinh dịch tễ, chống ô nhiễm không gian. Luật quốc tế quy định các nguyên tắc về chủ quyền hoàn toàn của một quốc gia đối với VTQG và được ghi nhận bằng các hiệp định hai bên hay nhiều bên giữa các quốc gia liên quan. Mọi hoạt động xâm phạm VTQG đều bị coi là xâm phạm chủ quyền quốc gia [34, trang 846].
Vùng trời của Việt Nam bao gồm: - Khoảng không gian ở trên đất liền (đất lục địa), nội thủy, lãnh hải: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khoảng không gian ở trên các hải đảo Việt Nam: được hiểu là khoảng không gian bao trùm lên các đảo, quần đảo gần bờ và xa bờ như Thổ Chu, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Phú Quốc, Cồn cỏ, Phú Qúy… quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chủ quyền vùng trời quốc gia Theo quy định tại Điều 1 của Công ước Chicago năm 1944: “Các quốc gia ký kết công nhận rằng mỗi quốc gia đều có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt trên khoảng không gian bao trùm lãnh thổ của mình”. Chủ quyền quốc gia gồm 2 nội dung: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác, cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp, mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không có quy định khác. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện: - Tự quyết định mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt; không có một thế lực nào, cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt buộc quốc gia phải thực hiện. - Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các điều ước quốc tế do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ quyền quốc gia đối với vùng trời cũng bao hàm những nội dung cơ bản nói trên, đó là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ vùng trời của mình và quyền độc lập của vùng trời quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Xâm phạm vùng trời được công pháp quốc tế thừa nhận là xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Để thực hiện và bảo vệ chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ vùng trời của mình, trong lĩnh vực hàng không quốc tế, quốc gia có quyền quyết định việc quản lý, khai thác và bảo vệ vùng trời của quốc gia bằng cách hoạt động cụ thể như: Quy định chế độ pháp lý của VTQG, cho phép thực hiện hoạt động hàng không dân dụng trong một số khu vực nhất định; có quyền tài phán đối với mọi hoạt động hàng không dân dụng trong phạm vi VTQG. Mọi hoạt động bay đi, bay đến, bay qua VTQG và hạ cánh xuống các sân bay của quốc gia của các phương tiện bay đều phải tuân thủ và chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia sở tại. Mọi hành vi vi phạm pháp luật quốc gia trong phạm vi vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia đều bị trừng phạt và xử lý theo pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế về hàng không mà quốc gia ký kết và gia nhập.
Bảo vệ chủ quyền vùng trời quốc gia Vùng trời là một bộ phận của lãnh thổ Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì thế, vùng trời là bộ phận cần được bảo vệ và đặt dưới sự quản lý của quốc gia và Nhà nước là “người” duy nhất có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Mặt khác, vùng trời là một thể thống nhất không thể tách rời giữa các quốc gia với nhau, nếu có một phần nào bị ảnh hưởng thì phần còn lại cũng sẽ bị tác động theo, vì thế nó cần một cơ chế bảo vệ đặc biệt. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền VTQG là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyền nhà nước đối với lãnh thổ VTQG.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý, giám sát mọi hoạt động bay trong lãnh thổ Việt Nam và nhận các thông tin về hoạt động bay trong vùng trời trên biển từ các đơn vị trực thuộc Bộ Giao thông vận tải. Quân chủng PK-KQ là đơn vị trực tiếp điều hành bay đối với các tàu bay quân sự. Bên cạnh hệ thống vùng trời thuộc trách nhiệm điều hành bay hàng không dân dụng là hệ thống vùng trời thuộc trách nhiệm điều hành bay quân sự. Vùng trời trách nhiệm điều hành bay quân sự là toàn bộ vùng trời lãnh thổ Việt Nam trừ đường hàng không, vùng trời sân bay dân dụng và khu vực hàng không chung.
Hệ thống này được Quân chủng PK-KQ phân công cho các Trung tâm chỉ huy, điều hành bay Quốc gia, Trung tâm chỉ huy, điều hành bay khu vực I, II, III và các đơn vị Không quân trực tiếp điều hành bay tại khu vực vùng trời các sân bay có căn cứ Không quân. Sự cần thiết phải bảo vệ chủ quyền vùng trời quốc gia 1. Quan điểm chỉ đạo về vấn đề bảo vệ vùng trời quốc gia 1. Quan điểm của Đảng Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổ hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đã sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” [37, trang 147].
“Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời Tổ quốc” [37, trang 148].
Tuy không nêu cụ thể, song ở đây có thể hiểu bảo vệ vùng trời quốc gia là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vùng trời. Nhiệm vụ này là của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Quan điểm của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010- 2015 nêu rõ: Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhận dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc; tình hình, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ động phòng chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.