chương I phần thứ 6 điều chỉnh về quyền tác giả, trong đó đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ dân sự về quyền tác giả, trong điều kiện đất nước chuyển đổi cơ chế quản lí từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Về tổng thể, các nguyên tắc và quy định cơ bản về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự đã thiết lập hoặc làm cơ sở để thiết lập một hệ thống phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, dựa trên công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, người ghi âm và tổ chức phát sóng. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, có không ít vấn đề, khiếm khuyết đã bộc lộ trong quá trình thực hiện các quy định của Bộ luật dân sự về quyền tác giả. Một mặt, đó là sự chưa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế hiện tại, mặt khác chưa cập nhật những bước quan trọng trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan.
Vì vậy, trước năm 2005 chưa có Luật chuyên ngành, pháp luật về sở hữu trí tuệ về quyền tác giả chủ yếu được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân Sự 1995 và các văn bản dưới luật. Nghị định 76/CP ngày 29 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự. Nghị định này ra đời chỉ đề cập đến quyền tác giả dưới góc độ dân sự. Các vấn đề khác có liên quan đến quyền quản lý nhà nước như việc xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, Nghị định 31/CP của Chính phủ ngày 26 tháng 6 năm 2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin.
Để khắc phục và xử lý nghiêm minh tình trạng xâm phạm quyền tác giả, đồng thời đưa ra các thủ tục đăng ký, chế độ lệ phí đăng 13 ký quyền tác giả nhằm bảo đảm quyền của tổ chức, cá nhân khi có tranh chấp xảy ra, Thông tư 166/1998/TT-BTC ngày 19 tháng 12 năm 1998 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ thu lệ phí đăng ký quyền tác giả. Luật sở hữu trí tuệ 2005(có hiệu lực ngày 01/07/2006) ra đời là bước ngoặt mới trên đường phát triển trong hoạt động bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan tại Việt Nam. Luật sở hữu trí tuệ trong đó phần quyền tác giả và quyền liên quan đã tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, đã được thẩm định trong thực tiễn. Cùng với 16 điều quy định tại Bộ luật dân sự 2005, chỉ 2 văn bản luật này, các quy định pháp luật riêng về quyền tác giả và quyền liên quan của Việt Nam đã có tới 59 điều.
Nếu tính cả các quy định chung tại phần 1, phần 5 và phần 6 của luật sở hữu trí tuệ thì các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan Việt Nam có tới 99 điều. Việc cùng lúc ra đời Luật sở hữu trí tuệ 2005 và Bộ luật dân sự 2005 đã pháp điển hóa những quy định về quyền tác giả trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, sản phẩm trí tuệ. Trong đó lĩnh vực văn học, nghệ thuật bảo đảm tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo, tạo điều kiện để phát huy hiệu quả lao động nghệ thuật, làm tăng giá trị tư tưởng, giá trị lịch sử hoặc các giá trị văn hóa khoa học khác. Chỉ gồm những quy định ở mức độ nguyên tắc về quyền tác giả và dành các quy định chi tiết hơn cho Luật sở hữu trí tuệ với ý nghĩa là văn bản pháp luật chuyên biệt về sở hữu trí tuệ.
Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về quyền tác giả, nhằm tăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này. Luật Hải quan đã có quy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ. Hệ thống các chế tài về hành chính, dân sự và hình sự đã được hình thành, đảm bảo cho các quy định pháp luật về quyền tác giả được thi hành với bộ máy cưỡng chế của Nhà nước. Tại Bộ luật Hình sự sửa đổi tháng 6 năm 2009 (điều 170a) có quy định mức phạt tối đa là 200 triệu đồng và 3 năm tù giam, đối với các 14 hành vi thuộc tội phạm quyền tác giả; Luật Hải quan 2005, Luật xử lý phạt vi phạm hành chính 2012; Luật Điện ảnh 2006, Luật công nghệ thông tin 2006; Luật chuyển giao công nghệ 2006; Luật Đầu tư 2005… Nghị định số 131/2013/NĐ-CP đã được chính phủ ký ban hành ngày 16/10/2013.
Nghị định gồm 4 chương, 43 điều sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm; điều chỉnh mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả để phù hợp với thực tiễn và các quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Mức xử phạt, hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định đủ sức giáo dục và răn đe. Điều quan trọng tiếp theo là việc thực thi với tinh thần trách nhiệm cao và nghiêm minh của các cơ quan có thẩm quyền từ trung ương tới địa phương. Đồng thời với hệ thống pháp luật quốc gia đã được định hình như trên, Hiệp định song phương về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ cũng đang có hiệu lực thi hành.
Cùng với các điều ước quốc tế song phương trên, Việt Nam đã là thành viên của 5 điều ước quốc tế đa phương gồm Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Brussels bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh đã mã hóa; Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bất hợp pháp bản ghi âm của họ. Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra còn có các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương trong đó có nội dung về quyền tác giả, quyền liên quan thế hệ mới như Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu (VCU), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam Hàn Quốc (VKFTA); Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP), v.v… 15 Tại Hàn quốc, quyền tác giả âm nhạc được bảo hộ bởi Luật quyền tác giả Hàn quốc, lần đầu tiên được ban hành năm 1957, đã trải qua 14 lần bổ sung, và hai lần trong số đó được sửa đổi, bổ sung toàn diện, lần thứ nhất năm 1986 và lần thứ hai năm 2006, có hiệu lực năm 2007. Luật này bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền tác giả, quyền liên quan nhằm thúc đẩy việc sử dụng công bằng các sản phẩm sở hữu trí tuệ và đóng góp vào việc cải thiện và phát triển nền văn hóa.
Tại Hoa kỳ, việc ghi nhận quyền tác giả và các biện pháp bảo hộ quyền tác giả đã được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ tại Điều 1 Mục 8 Khoản 8 “Quốc Hội có quyền… nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học và nghệ thuật bằng các đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh trong một khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh của họ”. Luật Quyền tác giả đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thông qua và ban hành ngày 31 tháng 05 năm 1790. Năm 1976, Thượng nghi sĩ Mc Clellan đưa ra dự thảo Luật Quyền tác giả mới trình Thượng nghị viện Hoa Kỳ thay thế cho Luật Quyền tác giả cũ. Với 100% số phiếu thông qua (97 phiếu thuận/ 0 phiếu chống), Thượng nghị viện thông qua Luật Quyền tác giả vào ngày 19/02/1976.
Ngày 22/09/1976, cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đều chập thuận thông quan Luật Quyền tác giả. Ngày 19/10/1976, Tổng thống Ford ký lệnh ban hành Luật Quyền tác giả, có hiệu lực từ ngày 01/01/1978. Sau đó, Luật quyền tác giả năm 1976 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 [9]. Tháng 6 năm 1926, Liên đoàn quốc tế các nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC) được thành lập bao gồm đại biểu từ 18 hiệp hội quyền tác giả trên toàn thế giới và ngày nay thành viên của CISAC ngày một tăng lên và mở rộng hơn.
Mục tiêu cơ bản của các hiệp hội thành viên CISAC – cơ sở và lý do tồn tại cơ bản của họ - là đảm bảo một cách hiệu quả, thúc đẩy quyền lợi tinh thần của tác giả và bảo vệ các quyền lợi vật chất của họ; đồng thời là một bộ máy hiệu quả dể thu và phân phối tiền bản quyền các tác phẩm âm nhạc và đảm đương toàn bộ trách nhiệm về các hoạt động gắn liền với việc quản trị các quyền đã được giao phó cho tổ chức [19]. Quyền tác giả phát sinh theo pháp luật của quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực 16 trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Để bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được phát sinh trên cơ sở nước này được tiếp tục bảo hộ ở nước khác thì cần có sự ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế giữa các nước hữu quan. Nhằm bảo hộ các quyền lợi chính đáng của tác giả, nhiều quốc gia đã tham gia vào việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền tác giả như Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật (được sửa đổi, bổ sung nhiều lần); Công ước toàn cầu về bản quyền năm 1952; Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới WTO; Hiệp định TPP v.
Vai trò và xu hƣớng phát triển việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 1.