Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

141
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

1.1. Lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.1. Khái quát chung về nhãn hiệu

1.1.2. Chức năng của nhãn hiệu

1.1.3. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.5. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.5.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới
1.1.5.2. Lược sử về sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý

1.1.6. Nhãn hiệu trong mối tương quan với một số đối tượng sở hữu trí tuệ khác

1.1.6.1. Nhãn hiệu với tên thương mại
1.1.6.2. Nhãn hiệu với chỉ dẫn địa lý
1.1.6.3. Nhãn hiệu với nhãn hàng hóa
1.1.6.4. Nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp
1.1.6.5. Nhãn hiệu với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

1.1.7. Vai trò bảo hộ nhãn hiệu trong nền kinh tế thị trường

1.1.7.1. Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với doanh nghiệp
1.1.7.2. Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với người tiêu dùng
1.1.7.3. Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với toàn xã hội

2. CHƯƠNG 2: BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2005

2.1. Nhãn hiệu với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

2.2. Khái niệm nhãn hiệu

2.3. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

2.3.1. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

2.3.2. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

2.3.3. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

2.3.4. Phân loại nhãn hiệu

2.4. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.4.1. Quyền đăng ký nhãn hiệu

2.4.2. Thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu

2.4.2.1. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
2.4.2.2. Nguyên tắc ưu tiên
2.4.2.3. Yêu cầu đối với đơn
2.4.2.4. Công bố đơn, văn bằng bảo hộ
2.4.2.5. Phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ
2.4.2.6. Khiếu nại quyết định liên quan đến việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu

2.4.3. Đăng ký quốc tế nhãn hiệu

2.4.4. Thời hạn bảo hộ

2.4.5. Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ

2.4.6. Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ

2.4.7. Sửa đổi văn bằng bảo hộ

2.5. Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.5.1. Chủ sở hữu nhãn hiệu

2.6. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.6.1. Quyền sử dụng nhãn hiệu

2.6.2. Quyền định đoạt nhãn hiệu

2.6.3. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu

2.6.4. Giới hạn quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.7. Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.7.1. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.7.2. Các quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.7.3. Biện pháp dân sự

2.7.4. Biện pháp hành chính, hình sự, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mang nhãn hiệu được bảo hộ tại biên giới

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU

3.1. Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

3.2. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu

3.2.1. Định hướng chung

3.2.2. Hoàn thiện pháp luật liên quan đến xác lập quyền

3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền

3.2.4. Hoàn thiện pháp luật liên quan đến những vấn đề mới phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế

3.2.5. Xây dựng các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết các nội dung được đề cập mang tính nguyên tắc trong Luật SHTT

3.2.6. Xây dựng các tình huống điển hình trên cơ sở tổng kết thực tiễn

3.2.7. Xây dựng và luật hóa Quy chế thẩm định nhãn hiệu

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Nhãn hiệu không chỉ là biểu tượng nhận diện sản phẩm mà còn là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến nhãn hiệu. Việc bảo vệ nhãn hiệu giúp ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi của chủ sở hữu và bảo vệ người tiêu dùng khỏi hàng giả, hàng nhái.

1.1. Khái niệm và Vai trò của Nhãn Hiệu trong Kinh Doanh

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác. Vai trò của nhãn hiệu rất quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và tạo dựng lòng tin của người tiêu dùng. Nhãn hiệu không chỉ giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm mà còn thể hiện giá trị và chất lượng của hàng hóa.

1.2. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển của Hệ Thống Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu đã có từ lâu đời, bắt đầu từ những dấu hiệu đơn giản để phân biệt hàng hóa. Qua thời gian, nhãn hiệu đã trở thành một phần không thể thiếu trong thương mại, với sự phát triển của các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và người tiêu dùng.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Bảo Hộ Nhãn Hiệu Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005

Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã tạo ra khung pháp lý cho việc bảo hộ nhãn hiệu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu. Các hành vi vi phạm nhãn hiệu ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho việc phát hiện và xử lý.

2.1. Các Hành Vi Vi Phạm Nhãn Hiệu Thường Gặp

Các hành vi vi phạm nhãn hiệu bao gồm làm giả, sao chép nhãn hiệu, hoặc sử dụng nhãn hiệu mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn làm giảm lòng tin của người tiêu dùng.

2.2. Khó Khăn Trong Quy Trình Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Quy trình bảo hộ nhãn hiệu còn nhiều bất cập, từ việc đăng ký đến việc thực thi quyền. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm rõ quy trình này, dẫn đến việc không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

III. Phương Pháp Bảo Hộ Nhãn Hiệu Hiệu Quả Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005

Để bảo vệ nhãn hiệu một cách hiệu quả, các doanh nghiệp cần nắm rõ các phương pháp và quy trình bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Việc đăng ký nhãn hiệu là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu.

3.1. Quy Trình Đăng Ký Nhãn Hiệu

Quy trình đăng ký nhãn hiệu bao gồm việc nộp đơn, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ. Doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu và thông tin cần thiết để đảm bảo quá trình diễn ra suôn sẻ.

3.2. Các Biện Pháp Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Nhãn Hiệu

Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu bao gồm việc theo dõi và phát hiện các hành vi xâm phạm, cũng như thực hiện các thủ tục khiếu nại và khởi kiện nếu cần thiết. Doanh nghiệp cũng nên xây dựng chiến lược bảo vệ nhãn hiệu một cách toàn diện.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Việc áp dụng các quy định về bảo hộ nhãn hiệu trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và nâng cao giá trị thương hiệu.

4.1. Các Trường Hợp Thành Công Trong Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc bảo vệ nhãn hiệu của mình thông qua các vụ kiện và khiếu nại. Những trường hợp này không chỉ bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mà còn tạo ra tiền lệ cho các doanh nghiệp khác.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Trong Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Các doanh nghiệp cần rút ra bài học từ những trường hợp thành công và thất bại trong việc bảo hộ nhãn hiệu. Việc hiểu rõ quy trình và các biện pháp bảo vệ sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi của mình.

V. Kết Luận và Định Hướng Tương Lai Về Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một vấn đề cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Để nâng cao hiệu quả bảo hộ, cần có sự hoàn thiện trong các quy định pháp luật và tăng cường công tác thực thi.

5.1. Định Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Về Bảo Hộ Nhãn Hiệu

Cần có các điều chỉnh trong Luật Sở hữu trí tuệ để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của thị trường. Việc hoàn thiện pháp luật sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu một cách hiệu quả hơn.

5.2. Tương Lai Của Bảo Hộ Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Trong tương lai, việc bảo hộ nhãn hiệu sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn. Các doanh nghiệp cần chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và nâng cao nhận thức về giá trị của nhãn hiệu.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái quát chung về nhãn hiệu Nhãn hiệu đã xuất hiện từ thời cổ đại, được người chăn nuôi gia súc, nhà buôn, nhà sản xuất khi đó dùng để đánh dấu các đàn gia súc hoặc các đồ vật của mình. Phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran.

Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng. [21] Nhờ sự hưng thịnh của hoạt động giao thương mà việc sử dụng các dấu hiệu đó trên hàng hóa tương đối phát triển. Ban đầu, nhãn hiệu không hoàn toàn thực hiện chức năng phân biệt mà việc sử dụng chúng chỉ để chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa với nhà sản xuất ra hàng hóa, giữa tài sản với chủ sở hữu của tài sản mà thôi. Cũng chính bởi lẽ đó, ở thời kỳ đầu tầm quan trọng về mặt kinh tế của nhãn hiệu vẫn còn hạn chế.

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho nhãn hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế. Việc một hàng hóa có thể được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho người tiêu dùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóa của từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh. Nhãn hiệu chính là dấu hiệu giúp họ phân biệt được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Xã hội hiện đại với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường đem lại cho con người cơ hội được sử dụng rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau.

Các nhà sản Page 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất và thương gia cạnh tranh đưa đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hóa cùng loại. Ngoài việc nhận biết qua hình thức, giá cả, chất lượng của sản phẩm thì một dấu hiệu đặc trưng của riêng nhà sản xuất hoặc kinh doanh sẽ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm cạnh tranh phù hợp với mình. “Do vậy, hàng hóa phải được đặt tên. Phương tiện để đặt tên hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu hàng hóa.” [21] Khi mới ra đời nhãn hiệu thường chỉ là một dấu hiệu hoặc ký hiệu mang tính ngẫu nhiên.

Dần dần, cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại, nhu cầu cá biệt hóa sản phẩm khiến cho các nhà sản xuất, kinh doanh ý thức hơn về nhãn hiệu. Họ chú tâm nhiều hơn vào việc lựa chọn các dấu hiệu làm nhãn hiệu và lúc này nhiều nhãn hiệu đã không còn mang tính ngẫu nhiên nữa mà chứa đựng trong nó dụng ý, sự gửi gắm của các nhà sản xuất, kinh doanh đối với sản phẩm được đưa ra thị trường. Nhãn hiệu theo nghĩa nguyên thủy thì chỉ dùng để đặt tên cho hàng hóa. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của xã hội, hàng hóa được cung cấp cho con người không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm cụ thể mà còn là các loại hình dịch vụ được cung cấp đa dạng trên thị trường.

Các dịch vụ này cũng cần được đặt tên để cho phép người tiêu dùng có thể phân biệt giữa các dịch vụ của các công ty khác nhau cùng cung cấp. Những dấu hiệu này tạo thành nhãn hiệu dịch vụ. Do nhãn hiệu dịch vụ mang bản chất giống hệt nhãn hiệu hàng hóa nên hiện nay trên thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” được dùng chung cho cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 1995 sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” cho cả hàng hóa và dịch vụ.

Bộ luật dân sự 2005 đã sử dụng thống nhất thuật ngữ “nhãn hiệu” cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Trên thương trường nhãn hiệu ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, nhãn hiệu được coi như một công cụ để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ, thu hút khách hàng, tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng… Vai trò của nhãn hiệu càng trở nên quan trọng thì khả năng nhãn hiệu đó bị sao chép, làm giả, thậm chí Page 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đánh cắp càng cao. Thực tế này đòi hỏi phải có một cơ chế hữu hiệu để ghi nhận chính thức và công khai những người sở hữu nhãn hiệu, từ đó duy trì và củng cố đặc tính phân biệt của nhãn hiệu, bảo vệ nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu thực tế đó.

Nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHTT đang được các quốc gia bảo hộ. Nhãn hiệu thuộc về nhánh quyền sở hữu công nghiệp. Khái niệm “sở hữu công nghiệp” bao gồm các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Đó là những sản phẩm của sáng tạo trí tuệ tạo ra hoặc kết tinh trên sản phẩm để làm phong phú thêm đời sống vật chất cho con người.

Bên cạnh đó, sở hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu, các chỉ dẫn thương mại và việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh. Với các đối tượng này, khía cạnh sáng tạo trí tuệ vẫn có song không mang tính quyết định như các đối tượng kia, mà yếu tố quyết định ở đây là việc chuyển tải thông tin tới người tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ cung cấp trên thị trường và việc bảo hộ nhằm chống lại việc sử dụng không được cho phép những dấu hiệu có khả năng lừa dối người tiêu dùng. Khái niệm nhãn hiệu có thể khác nhau ở từng nước, nhưng nhìn chung, khái niệm này có sự thống nhất ở nội dung: nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với các chủ thể khác trong cùng lĩnh vực. Nội dung này được thể hiện trong Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu”.

[17] Điểm khác nhau có chăng giữa khái niệm nhãn hiệu của các nước chính là ở nội hàm mà khái niệm này đề cập tới. Dấu hiệu nói chung có thể bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, khẩu hiệu, hình ảnh, màu sắc, mùi vị, âm thanh, hình thức bao bì… nhưng tùy hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia mà phạm vi của các dấu hiệu này được giới hạn ở những dấu hiệu nhất định. Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA) thì nhãn hiệu có thể là từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh, khẩu hiệu hoặc hình dạng của bao gói Page 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc kết hợp của các yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt một sản phẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trường hoặc trong kinh doanh. Trong các định nghĩa về nhãn hiệu chúng ta dễ dàng nhận thấy một điểm chung nổi bật đó là nhãn hiệu có thể là bất kỳ dấu hiệu nào miễn là có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể khác nhau.

Như vậy, về mặt lý luận, các dấu hiệu thuộc dạng nhìn thấy được và thuộc dạng không thể nhìn thấy được như mùi vị hoặc âm thanh đều có thể trở thành nhãn hiệu. Việc thừa nhận dấu hiệu thuộc dạng nào có thể sử dụng làm nhãn hiệu, vì thế, tùy thuộc và điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia chỉ cho phép đăng ký các dấu hiệu được thể hiện dưới dạng đồ họa (nghĩa là có thể nhìn thấy được), một trong các lý do là bởi chỉ các nhãn hiệu thuộc dạng này mới có thể ghi được trong sổ đăng bạ quốc gia và công bố một cách hữu hình trên công báo nhãn hiệu quốc gia, để công bố công khai với công chúng việc nhãn hiệu đó đã được xác lập quyền và được Nhà nước bảo hộ. Về vấn đề này, Điều 15.1 Hiệp định TRIPS quy định “… Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” [17].

Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa (TLT) cũng chỉ thừa nhận sự bảo hộ đối với các dấu hiệu nhìn thấy được, không thừa nhận sự bảo hộ đối với nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và mùi vị “Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều (holography) và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi.” [25] Có thể lấy ví dụ về các nhãn hiệu nổi tiếng được cấu thành từ các dấu hiệu khác nhau như sau: Nhãn hiệu dạng từ ngữ: CHANEL, TOYTA, Trung Nguyên Nhãn hiệu dạng hình ảnh: Đăng ký quốc tế số 433071 Page 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhãn hiệu kết hợp hình ảnh và từ ngữ: Nhãn hiệu quốc gia số 90714 1. Chức năng của nhãn hiệu Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính là: chức năng phân biệt, chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng thông tin về chất lượng và chức năng quảng cáo. Trên thực tế hai chức năng đầu của nhãn hiệu có tính phụ thuộc lẫn nhau và cần luôn được xem xét cùng nhau. Hai chức năng sau mang tính phái sinh, có được khi nhãn hiệu đã có hai chức năng đầu.

Nhãn hiệu ra đời với mục đích để phân biệt hàng hóa của chủ thể này với hàng hóa của chủ thể khác. Để thực hiện được chức năng này nhãn hiệu cần phải có khả năng tự phân biệt và khả năng phân biệt với nhãn hiệu của chủ thể khác. Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu tạo cho nhãn hiệu một ấn tượng tổng thể tác động vào nhận thức của người tiêu dùng để họ có thể nhận biết, ghi nhớ và so sánh với các nhãn hiệu khác. Tính chất này có thể thay đổi, tùy thuộc vào việc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ