CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát về nhãn hiệu 1. Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu Khái niệm nhãn hiệu: Từ thời xa xưa, con người đã sử dụng những dấu hiệu riêng được khắc, chạm trổ trên các đồ vật như: gốm, vũ khí, trang sức vàng bạc,… để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác. Qua thời gian, những dấu hiệu đó ngày càng trở nên rõ rệt và quan trọng trong giao thương mua bán hàng hóa. Các dấu hiệu này được hiểu theo cách truyền thống là các từ ngữ, biểu tượng, họa tiết, hoa văn trên các sản phẩm, hàng hóa, đánh dấu quyền sở hữu của mỗi người tạo ra hoặc chiếm hữu.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, những dấu hiệu này được các quốc gia công nhận và đưa vào pháp luật, tạo thành một hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ những dấu hiệu này. Nhãn hiệu là một bộ phận của sở hữu trí tuệ, được hiểu là kết quả sáng tạo tinh thần (loại tài sản đặc biệt) bao gồm quyền đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp. Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như: Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs.
Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid).1 Tại Từ điển Luật học của nhà xuất bản Tư pháp2 Việt Nam cũng đã nêu khái niệm nhãn hiệu như sau: “Dấu hiệu riêng được dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc.vn 2 Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý là từ điển được biên soạn công phu với gần 2.500 khái niệm, thuật ngữ luật học; tác phẩm luật học nổi tiếng thế giới; bộ luật, đạo luật nổi tiếng thế giới và trong lịch sử Việt Nam. Được xuất bản bởi nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và nhà xuất bản Tư pháp. 7 Nhãn hiệu hàng hóa được tạo thành từ một số yếu tố độc đáo để nhận biết, không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa khác đang được bảo hộ.
Nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng kí và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận, thì được nhà nước bảo hộ và tổ chức, cá nhân đã đăng kí thì được độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó”. Còn đối với Hiệp định TRIPs quy định về khái niệm nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.3” Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát và mềm dẻo trong pháp luật quốc tế. Còn các quốc gia, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp.
Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế về nhãn hiệu như: Công ước Paris và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs. Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT. Luật SHTT ra đời vào năm 2005 (hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 và 2019) là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước. Cho đến thời điểm hiện tại, Luật SHTT của Việt Nam vẫn chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định về định nghĩa nhãn hiệu.
Mà khái niệm nhãn hiệu được quy định tại phần giải thích từ ngữ. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.4” Đặc điểm của nhãn hiệu: Do nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ có chức năng chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau nên có đặc điểm dễ nhận biết, ghi nhớ. Do đó nhãn hiệu phải chứa đựng những đặc điểm nổi bật, dễ nhận dạng về mặt hình ảnh. Nhãn hiệu có thể là sự kết hợp sáng tạo của hình ảnh, từ ngữ, hình vẽ để thể hiện 3 Điều 15 Hiệp định TRIPs 4 Khoản 16, Điều 4, Luật SHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009,2019 8 vẻ độc đáo, gây ấn tượng với người tiêu dùng nên thường được thể hiện ở những vị trí nổi bật, dễ nhìn thấy như ở ngay trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, tờ rơi hoặc các loại ấn phẩm truyền thống khác (bandroll – băng rôn, poster, flyer/leaflet (tờ rơi), biển hoặc bảng quảng cáo, thiết kế để quảng cáo trên internet…).
Ngoài ra, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ còn là tài sản vô hình, phi vật chất. Đối với các tài sản hữu hình thông thường, giá trị sử dụng của đối tượng này thường bị hao mòn qua thời gian thông qua việc sử dụng, nhưng riêng đối với nhãn hiệu, giá trị có khả năng tăng lên theo thời gian thông qua sự uy tín, danh tiếng của sản phẩm hay của dịch vụ. Mặt khác, nhãn hiệu mang tính độc quyền đối với chủ sở hữu. Quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ đã được bảo hộ thuộc về chủ sở hữu của nhãn hiệu đó.
Chủ sở hữu đó hoàn toàn có quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền khai thác giá trị từ nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ theo đúng quy định của pháp luật. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực SHTT.5 Như vậy, có thể thấy rằng, nhãn hiệu có 3 đặc điểm chính gồm: Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.
Phân loại nhãn hiệu Về cơ bản theo pháp luật Việt Nam có bốn loại nhãn hiệu được bảo hộ như sau: Nhãn hiệu tập thể (NHTT) Theo định nghĩa của Luật Nhãn hiệu của Hoa Kỳ năm 1946, thuật ngữ “NHTT” có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ được sử dụng bởi 5 https://congtyluat.vn/vi/nhan-hieu-hang-hoa-dich-vu 9 các thành viên của một hiệp hội, các nhóm hay tổ chức tập thể khác; hoặc được hiệp hội, nhóm tập thể khác này có ý định chân thành trong việc sử dụng nhãn hiệu với mục đích thương mại và xin đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và bao gồm các nhãn chỉ ra mối quan hệ thành viên trong liên minh, trong hiệp hội hay trong tổ chức tập thể. Như vậy, pháp luật Hoa Kỳ phân biệt có hai loại NHTT: Một là, NHTT dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ được đăng ký và sử dụng bởi một tổ chức tập thể và thành viên của tổ chức tập thể. Chức năng của NHTT này là phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm mang nhãn của bản thân tổ chức tập thể. Lúc này tổ chức tập thể có tư cách không khác gì một tổ chức đơn lẻ đứng ra đăng ký nhãn hiệu.
Và bản thân NHTT lúc này cũng không khác gì một nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ thông thường. Hai là, NHTT được gọi là nhãn hiệu tư cách thành viên tập thể. Những nhãn hiệu thuộc loại này là những NHTT chân chính, được sử dụng bởi thành viên của một tổ chức tập thể với mục đích chỉ ra tư cách thành viên trong tổ chức đó. Bản thân tổ chức tập thể có thể đứng ra đại diện đăng ký nhãn hiệu loại này và thực thi các quyền của chủ sở hữu.
Tuy nhiên, người trực tiếp có quyền gắn nhãn hiệu đó lên sản phẩm là các thành viên của tổ chức tập thể. Vì vậy, giữa các thành viên thường phải có quy chế về việc sử dụng NHTT này. Đối với pháp luật Việt Nam, NHTT vẫn là một khái niệm tương đối mới. Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 chỉ bao hàm một số quy định rất sơ sài về NHTT.
Theo đó, “nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.6Ví dụ: Miến dong Bắc Kạn; Lụa Hà Đông, Rượu Tuy Lộc, Tiêu Lộc Ninh, Chè Thái Nguyên,… Đối với NHTT thì “tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể và khi đăng ký NHTT, người nộp đơn cũng phải nộp một bản quy chế sử dụng NHTT đó cho Cục SHTT”.