Đồ án: Bảo hộ nhãn hiệu tập thể theo Luật Sở hữu trí tuệ - ĐH Công nghệ TP.HCM

Nghiên cứu pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam. Tìm hiểu quy định, thủ tục đăng ký và thực thi quyền đối với nhãn hiệu tập thể.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án chuyên ngành

2021

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài Đồ án chuyên ngành

Mục tiêu nghiên cứu đề tài đồ án chuyên ngành

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài đồ án chuyên ngành

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đồ án chuyên ngành

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu của đồ án chuyên ngành

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

1.1. Khái quát về nhãn hiệu

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu

1.1.2. Phân loại nhãn hiệu

1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của nhãn hiệu

1.2. Khái quát về đồng sở hữu

1.2.1. Khái niệm đồng sở hữu

1.2.2. Đặc điểm của đồng sở hữu

1.3. Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.3.1. Khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.3.2. Nội dung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.3.3. Vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.3.4. Quản lý nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

1.3.5. Trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam

1.3.6. Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

1.3.7. Cơ quan xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ

2.1. Điều kiện về nhãn hiệu và đồng sở hữu nhãn hiệu tập thể

2.1.1. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

2.1.2. Những dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

2.1.3. Điều kiện xác lập đồng sở hữu nhãn hiệu tập thể

2.2. Trình tự, thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể

2.2.1. Chủ thể có quyền đăng ký và thực hiện quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể

2.2.2. Chuẩn bị tài liệu nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể

2.2.3. Quy trình thủ tục nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể

2.2.4. Thời hạn nhãn hiệu được bảo hộ

2.3. Xử lý vi phạm về xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

2.3.1. Xử lý xâm phạm nhãn hiệu tập thể bằng biện pháp dân sự

2.3.2. Xử lý xâm phạm bằng biện pháp hành chính

2.3.3. Xử lý xâm phạm bằng biện pháp hình sự

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ THEO LUẬT SHTT

3.1. Tranh chấp quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể giữa những người đồng sở hữu

3.1.1. Giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể giữa những người đồng sở hữu bằng biện pháp dân sự

3.1.2. Giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể giữa những người đồng sở hữu bằng biện pháp xử lý hành chính

3.1.3. Giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể giữa những người đồng sở hữu bằng biện pháp xử lý hình sự

3.2. Vi phạm về điều kiện nhãn hiệu

3.2.1. Trường hợp xâm phạm, giải quyết xâm phạm nhãn hiệu tập thể

3.2.2. Nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm điều kiện nhãn hiệu tập thể

3.3. Vi phạm thủ tục đăng kí bảo hộ nhãn hiệu tập thể

3.3.1. Thực trạng đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể

3.3.2. Một số bất cập về thủ tục đăng kí bảo hộ nhãn hiệu tập thể

3.4. Một số kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tập thể

3.4.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tập thể

3.4.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu tập thể

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài Đồ án chuyên ngành

Mục tiêu nghiên cứu đề tài đồ án chuyên ngành

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài đồ án chuyên ngành

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đồ án chuyên ngành

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu của đồ án chuyên ngành

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nhãn hiệu tập thể Nghiên cứu pháp lý cơ bản

Từ xa xưa, con người đã sử dụng dấu hiệu riêng để phân biệt sản phẩm. Nhãn hiệu, một phần của sở hữu trí tuệ, là kết quả sáng tạo tinh thần, được bảo vệ bởi pháp luật. Nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh nhãn hiệu, như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs. Hiệp định TRIPs định nghĩa nhãn hiệu là dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005 (sửa đổi 2009, 2019) là luật chuyên ngành đầu tiên về SHTT. Luật SHTT định nghĩa nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu tập thể là một loại nhãn hiệu đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong một tổ chức. Luật pháp Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện để bảo vệ nhãn hiệu tập thể một cách hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp và tổ chức cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu tập thể.

1.1. Khái niệm và đặc điểm chính của Nhãn hiệu tập thể

Theo Luật SHTT, nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Ví dụ: Miến dong Bắc Kạn; Lụa Hà Đông. Khác với nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể có những đặc điểm riêng biệt. Thứ nhất, nó là tài sản chung của một tập thể, không phải của một cá nhân hay tổ chức đơn lẻ. Thứ hai, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể phải tuân thủ quy chế do tổ chức sở hữu nhãn hiệu ban hành. Thứ ba, nhãn hiệu tập thể thường gắn liền với một vùng địa lý hoặc một ngành nghề truyền thống. Pháp luật Việt Nam cũng quy định rằng, tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể.

1.2. Vai trò và ý nghĩa quan trọng của Nhãn hiệu tập thể

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, nhãn hiệu tập thể đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ của các thành viên trong một tổ chức. Nhãn hiệu tập thể giúp nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đối với người tiêu dùng, nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu nhận biết sản phẩm chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng. Đối với Nhà nước, bảo hộ nhãn hiệu tập thể góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, kinh tế của địa phương, thúc đẩy phát triển nông thôn. Ngày nay, việc các nhà sản xuất quan tâm hàng đầu hiện nay là làm thế nào để sản phẩm của mình có sự khác biệt với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác và làm thế nào để người tiêu dùng, khách hàng có thể nhớ được thương hiệu sản phẩm của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất chính là tạo ra một nhãn hiệu có khả năng phân biệt cho hàng hóa, dịch vụ của mình.

II. Thách thức pháp lý về Bảo hộ Nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam

Mặc dù Luật SHTT đã có những quy định về nhãn hiệu tập thể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong thực tiễn bảo hộ. Một trong những thách thức lớn nhất là nhận thức của các doanh nghiệp và tổ chức về nhãn hiệu tập thể còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu tập thể. Bên cạnh đó, quy trình đăng ký nhãn hiệu tập thể còn phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí. Tình trạng xâm phạm nhãn hiệu tập thể vẫn diễn ra phổ biến, gây thiệt hại cho các thành viên trong tổ chức. Việc xử lý các hành vi xâm phạm nhãn hiệu tập thể còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan chức năng.

2.1. Vấn đề xâm phạm quyền sở hữu Nhãn hiệu tập thể

Xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu tập thể là một vấn đề nhức nhối hiện nay. Các hành vi xâm phạm phổ biến bao gồm: sử dụng trái phép nhãn hiệu tập thể, làm giả nhãn hiệu tập thể, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Hậu quả của việc xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu tập thể là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho các thành viên trong tổ chức mà còn làm giảm uy tín, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng. Để ngăn chặn tình trạng xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu tập thể, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, các tổ chức và doanh nghiệp.

2.2. Khó khăn trong thực thi quyền Nhãn hiệu tập thể

Việc thực thi quyền nhãn hiệu tập thể trên thực tế gặp nhiều khó khăn do nhiều yếu tố. Thứ nhất, hệ thống pháp luật về SHTT còn chưa hoàn thiện, thiếu các quy định cụ thể về xử lý vi phạm nhãn hiệu tập thể. Thứ hai, năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật còn hạn chế, thiếu nguồn lực và kinh nghiệm trong việc điều tra, xử lý các vụ việc xâm phạm nhãn hiệu tập thể. Thứ ba, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp và người dân còn thấp. Để nâng cao hiệu quả thực thi quyền nhãn hiệu tập thể, cần có sự đầu tư vào đào tạo, nâng cao năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về SHTT.

III. Cách đăng ký Bảo hộ Nhãn hiệu tập thể Hướng dẫn chi tiết

Để được bảo hộ, nhãn hiệu tập thể cần đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Dấu hiệu phải nhìn thấy được, có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Có một quy trình cụ thể để đăng ký nhãn hiệu tập thể. Chủ thể có quyền đăng ký là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp. Hồ sơ đăng ký bao gồm tờ khai, mẫu nhãn hiệu, quy chế sử dụng nhãn hiệu, và các tài liệu khác. Quy trình bao gồm nộp đơn, thẩm định hình thức, công bố đơn, thẩm định nội dung, và cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

3.1. Điều kiện và tiêu chí để Nhãn hiệu tập thể được bảo hộ

Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu tập thể được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện sau: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh; có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác; không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký trước đó. Ngoài ra, nhãn hiệu tập thể còn phải đáp ứng các tiêu chí riêng, như: được sử dụng bởi các thành viên của một tổ chức tập thể; tuân thủ quy chế sử dụng nhãn hiệu do tổ chức ban hành; không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc, chất lượng của sản phẩm.

3.2. Thủ tục và quy trình đăng ký Nhãn hiệu tập thể

Quy trình đăng ký nhãn hiệu tập thể bao gồm các bước sau: chuẩn bị hồ sơ đăng ký (tờ khai, mẫu nhãn hiệu, quy chế sử dụng nhãn hiệu); nộp hồ sơ tại Cục SHTT; Cục SHTT thẩm định hình thức, công bố đơn trên Công báo SHTT; thẩm định nội dung (xét nghiệm khả năng bảo hộ của nhãn hiệu); cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Thời gian thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể thường kéo dài từ 12-18 tháng. Khi được cấp giấy chứng nhận, nhãn hiệu tập thể sẽ được bảo hộ trong thời hạn 10 năm và có thể gia hạn nhiều lần.

IV. Đồng sở hữu Nhãn hiệu tập thể Pháp lý và thực tiễn áp dụng

Luật pháp quy định rõ về đồng sở hữu nhãn hiệu, bao gồm cả nhãn hiệu tập thể. Việc sử dụng nhãn hiệu phải nhân danh tất cả đồng chủ sở hữu, hoặc cho hàng hóa, dịch vụ mà tất cả đều tham gia. Việc sử dụng không được gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc. Khi đăng ký, cần nộp kèm theo tuyên bố đồng chủ sở hữu. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cấp cho người đầu tiên trong danh sách, các đồng chủ sở hữu khác có thể yêu cầu cấp phó văn bằng.

4.1. Điều kiện xác lập quyền Đồng sở hữu Nhãn hiệu tập thể

Theo Luật SHTT, hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có thể cùng đăng ký một nhãn hiệu tập thể, trở thành đồng chủ sở hữu nếu đáp ứng các điều kiện: Việc sử dụng nhãn hiệu phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh; Việc sử dụng những nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ. Và khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu, ngoài các tài liệu thông thường, chủ đớn cần nộp kèm theo tuyên bố đồng chủ sở hữu, cam kết các nội dung như trên.

4.2. Quyền và nghĩa vụ của Đồng sở hữu Nhãn hiệu tập thể

Các đồng chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc sử dụng, quản lý và bảo vệ nhãn hiệu. Họ có quyền sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ của mình, kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch vụ, và ngăn chặn các hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Đồng thời, họ cũng có nghĩa vụ tuân thủ quy chế sử dụng nhãn hiệu, đóng góp chi phí duy trì nhãn hiệu, và giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến nhãn hiệu. Tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ cần được ghi rõ trong quy chế của tổ chức để đảm bảo hoạt động hiệu quả.

V. Giải pháp nâng cao hiệu quả Bảo hộ Nhãn hiệu tập thể Kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu tập thể, cần có các giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, tổ chức, người tiêu dùng về nhãn hiệu tập thể. Đơn giản hóa thủ tục đăng ký nhãn hiệu tập thể. Tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT. Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu tập thể.

5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Nhãn hiệu tập thể

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật SHTT về nhãn hiệu tập thể để phù hợp với thực tiễn và các cam kết quốc tế. Cần quy định cụ thể hơn về các hành vi xâm phạm nhãn hiệu tập thể, các biện pháp xử lý vi phạm, và cơ chế giải quyết tranh chấp. Đồng thời, cần có các quy định về bảo hộ nhãn hiệu tập thể gắn liền với chỉ dẫn địa lý, sản phẩm đặc sản địa phương.

5.2. Nâng cao nhận thức về Nhãn hiệu tập thể

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về SHTT, đặc biệt là về nhãn hiệu tập thể, cho các doanh nghiệp, tổ chức, người tiêu dùng. Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo, tập huấn về nhãn hiệu tập thể. Xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu tập thể. Tạo điều kiện cho các tổ chức đại diện SHTT hoạt động hiệu quả.

VI. Triển vọng Bảo hộ Nhãn hiệu tập thể Tương lai phát triển

Với sự quan tâm của Nhà nước, sự nỗ lực của các doanh nghiệp và tổ chức, và sự ủng hộ của người tiêu dùng, công tác bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao. Nhãn hiệu tập thể sẽ trở thành công cụ hữu hiệu để xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

6.1. Vai trò của Nhãn hiệu tập thể trong hội nhập kinh tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhãn hiệu tập thể đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ Việt Nam. Nhãn hiệu tập thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, và thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nhãn hiệu tập thể cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái.

6.2. Phát triển bền vững nhờ Bảo hộ Nhãn hiệu tập thể

Bảo hộ nhãn hiệu tập thể không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào phát triển bền vững. Nhãn hiệu tập thể giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, kinh tế của địa phương, tạo việc làm và thu nhập cho người dân, bảo vệ môi trường. Phát triển nhãn hiệu tập thể cần gắn liền với phát triển du lịch, nông nghiệp sinh thái, và các hoạt động kinh doanh bền vững khác.

22/09/2025
Nguyễn hoàng vũ 1711270266 17dlka1 lkd nguyễn minh nhựt 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát về nhãn hiệu 1. Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu Khái niệm nhãn hiệu: Từ thời xa xưa, con người đã sử dụng những dấu hiệu riêng được khắc, chạm trổ trên các đồ vật như: gốm, vũ khí, trang sức vàng bạc,… để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác. Qua thời gian, những dấu hiệu đó ngày càng trở nên rõ rệt và quan trọng trong giao thương mua bán hàng hóa. Các dấu hiệu này được hiểu theo cách truyền thống là các từ ngữ, biểu tượng, họa tiết, hoa văn trên các sản phẩm, hàng hóa, đánh dấu quyền sở hữu của mỗi người tạo ra hoặc chiếm hữu.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, những dấu hiệu này được các quốc gia công nhận và đưa vào pháp luật, tạo thành một hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ những dấu hiệu này. Nhãn hiệu là một bộ phận của sở hữu trí tuệ, được hiểu là kết quả sáng tạo tinh thần (loại tài sản đặc biệt) bao gồm quyền đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp. Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như: Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs.

Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid).1 Tại Từ điển Luật học của nhà xuất bản Tư pháp2 Việt Nam cũng đã nêu khái niệm nhãn hiệu như sau: “Dấu hiệu riêng được dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc.vn 2 Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý là từ điển được biên soạn công phu với gần 2.500 khái niệm, thuật ngữ luật học; tác phẩm luật học nổi tiếng thế giới; bộ luật, đạo luật nổi tiếng thế giới và trong lịch sử Việt Nam. Được xuất bản bởi nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và nhà xuất bản Tư pháp. 7 Nhãn hiệu hàng hóa được tạo thành từ một số yếu tố độc đáo để nhận biết, không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa khác đang được bảo hộ.

Nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng kí và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận, thì được nhà nước bảo hộ và tổ chức, cá nhân đã đăng kí thì được độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó”. Còn đối với Hiệp định TRIPs quy định về khái niệm nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.3” Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát và mềm dẻo trong pháp luật quốc tế. Còn các quốc gia, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp.

Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế về nhãn hiệu như: Công ước Paris và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs. Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT. Luật SHTT ra đời vào năm 2005 (hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 và 2019) là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước. Cho đến thời điểm hiện tại, Luật SHTT của Việt Nam vẫn chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định về định nghĩa nhãn hiệu.

Mà khái niệm nhãn hiệu được quy định tại phần giải thích từ ngữ. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.4” Đặc điểm của nhãn hiệu: Do nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ có chức năng chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau nên có đặc điểm dễ nhận biết, ghi nhớ. Do đó nhãn hiệu phải chứa đựng những đặc điểm nổi bật, dễ nhận dạng về mặt hình ảnh. Nhãn hiệu có thể là sự kết hợp sáng tạo của hình ảnh, từ ngữ, hình vẽ để thể hiện 3 Điều 15 Hiệp định TRIPs 4 Khoản 16, Điều 4, Luật SHTT năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009,2019 8 vẻ độc đáo, gây ấn tượng với người tiêu dùng nên thường được thể hiện ở những vị trí nổi bật, dễ nhìn thấy như ở ngay trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, tờ rơi hoặc các loại ấn phẩm truyền thống khác (bandroll – băng rôn, poster, flyer/leaflet (tờ rơi), biển hoặc bảng quảng cáo, thiết kế để quảng cáo trên internet…).

Ngoài ra, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ còn là tài sản vô hình, phi vật chất. Đối với các tài sản hữu hình thông thường, giá trị sử dụng của đối tượng này thường bị hao mòn qua thời gian thông qua việc sử dụng, nhưng riêng đối với nhãn hiệu, giá trị có khả năng tăng lên theo thời gian thông qua sự uy tín, danh tiếng của sản phẩm hay của dịch vụ. Mặt khác, nhãn hiệu mang tính độc quyền đối với chủ sở hữu. Quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ đã được bảo hộ thuộc về chủ sở hữu của nhãn hiệu đó.

Chủ sở hữu đó hoàn toàn có quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền khai thác giá trị từ nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ theo đúng quy định của pháp luật. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực SHTT.5 Như vậy, có thể thấy rằng, nhãn hiệu có 3 đặc điểm chính gồm: Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.

Phân loại nhãn hiệu Về cơ bản theo pháp luật Việt Nam có bốn loại nhãn hiệu được bảo hộ như sau: Nhãn hiệu tập thể (NHTT) Theo định nghĩa của Luật Nhãn hiệu của Hoa Kỳ năm 1946, thuật ngữ “NHTT” có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ được sử dụng bởi 5 https://congtyluat.vn/vi/nhan-hieu-hang-hoa-dich-vu 9 các thành viên của một hiệp hội, các nhóm hay tổ chức tập thể khác; hoặc được hiệp hội, nhóm tập thể khác này có ý định chân thành trong việc sử dụng nhãn hiệu với mục đích thương mại và xin đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và bao gồm các nhãn chỉ ra mối quan hệ thành viên trong liên minh, trong hiệp hội hay trong tổ chức tập thể. Như vậy, pháp luật Hoa Kỳ phân biệt có hai loại NHTT: Một là, NHTT dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ được đăng ký và sử dụng bởi một tổ chức tập thể và thành viên của tổ chức tập thể. Chức năng của NHTT này là phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm mang nhãn của bản thân tổ chức tập thể. Lúc này tổ chức tập thể có tư cách không khác gì một tổ chức đơn lẻ đứng ra đăng ký nhãn hiệu.

Và bản thân NHTT lúc này cũng không khác gì một nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ thông thường. Hai là, NHTT được gọi là nhãn hiệu tư cách thành viên tập thể. Những nhãn hiệu thuộc loại này là những NHTT chân chính, được sử dụng bởi thành viên của một tổ chức tập thể với mục đích chỉ ra tư cách thành viên trong tổ chức đó. Bản thân tổ chức tập thể có thể đứng ra đại diện đăng ký nhãn hiệu loại này và thực thi các quyền của chủ sở hữu.

Tuy nhiên, người trực tiếp có quyền gắn nhãn hiệu đó lên sản phẩm là các thành viên của tổ chức tập thể. Vì vậy, giữa các thành viên thường phải có quy chế về việc sử dụng NHTT này. Đối với pháp luật Việt Nam, NHTT vẫn là một khái niệm tương đối mới. Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 chỉ bao hàm một số quy định rất sơ sài về NHTT.

Theo đó, “nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.6Ví dụ: Miến dong Bắc Kạn; Lụa Hà Đông, Rượu Tuy Lộc, Tiêu Lộc Ninh, Chè Thái Nguyên,… Đối với NHTT thì “tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể và khi đăng ký NHTT, người nộp đơn cũng phải nộp một bản quy chế sử dụng NHTT đó cho Cục SHTT”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ