Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm thu nhập đối với ngƣời cao tuổi Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm thu nhập đối với ngƣời cao tuổi. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thu nhập đối với ngƣời cao tuổi ở Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI 1. Ngƣời cao tuổi và bảo hiểm thu nhập đối với ngƣời cao tuổi 1.
Người cao tuổi 1. Khái niệm Trên thế giới có rất nhiều thuật ngữ về ngƣời cao tuổi. Thuật ngữ dùng để mô tả ngƣời cao tuổi khá đa dạng, kể cả trong các tài liệu quốc tế, bao gồm: “người cao tuổi”, “người già”, “người già cả”, “thế hệ thứ ba” “người c tuổi” "older persons", "the aged", "the elderly", "the third age", "the ageing"). Tuy nhiên, thuật ngữ “ngƣời cao tuổi” (older person), đƣợc sử dụng trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng, đƣợc sử dụng rộng rãi nhất và thƣờng dùng chỉ những ngƣời từ 60 tuổi trở lên [13], sau đó đã đƣợc phổ biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng nhƣ các quốc gia trên thế giới.
Trên phƣơng diện y học, ngƣời già là một ngƣời có sự suy thoái tự nhiên của các tế bào nhƣ: tóc bạc, da nhăn nheo, cơ bắp giảm nhƣng những trí nhớ dài hạn vẫn ở mức độ cao; các chức năng của cơ thể bị suy giảm nhiều. Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO), ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ 65 tuổi trở lên [45]. Có thể thấy mặc dù ngƣời cao tuổi là những ngƣời có thể lực bị suy giảm, nhƣng họ là những ngƣời có tri thức, kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm sống cao. Đó đƣợc xem là những ƣu điểm cơ bản vẫn đƣợc duy trì và phát huy bởi ngƣời cao tuổi, điều này đƣợc Liên hợp quốc nhận định: “.
nghiên cứu khoa học đang bác bỏ nhiều định kiến về những suy giảm hiển nhiên và không thể đảo ngƣợc gắn với tuổi tác” và cần đƣợc “đánh giá cao sự đóng góp của ngƣời cao tuổi cho xã hội” [34]. Trong Bình luận chung số 6 năm 1995 về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của ngƣời cao tuổi xác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định ngƣời cao tuổi từ 60 tuổi [6]. Tuy nhiên trong Công ƣớc số 128 năm 1967 về trợ cấp khuyết tật, trợ cấp tuổi già và trợ cấp ngƣời sống sót (Convertion C128 – Invalidity, Old-Age and Survivor‟ Benefits Convention, 1967), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại xác định tuổi già là 65 [44]. Cụ thể tại Điều 15 của Công ƣớc số 128 năm 1967: “Độ tuổi quy định không quá 65.
Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền có thể quy định một độ tuổi cao hơn, theo các chỉ tiêu về nhân khẩu, kinh tế và xã hội thích hợp đƣợc số liệu thống kê chứng minh”. Ngƣời cao tuổi là những ngƣời nằm trong độ tuổi đƣợc pháp luật về ngƣời cao tuổi xác định. Việc xác định độ tuổi ngƣời cao tuổi còn phụ thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia. Đối với các nƣớc phát triển, do điều kiện phúc lợi xã hội cũng nhƣ sự phát triển của y học, thêm vào đó là những lợi thế khác về môi trƣờng xã hội nên ngƣời dân có thể có sức khỏe tốt hơn và vẫn có thể đóng góp cho xã hội kể cả trong độ tuổi khá cao.
Còn đối với các nƣớc đang phát triển thì độ tuổi đƣợc xem là “ngƣời cao tuổi” đang có xu hƣớng cao hơn các nƣớc phát triển. Chẳng hạn, ở nhiều nƣớc châu Âu quy định ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ 65 tuổi trở lên; trong khi đó ở một số nƣớc châu Phi đƣợc xem là ngƣời cao tuổi chỉ vào khoảng 50 tuổi trở lên. Còn ở các nƣớc đang phát triển ví dụ nhƣ Việt Nam, Trung Quốc,.quy định ngƣời cao tuổi từ 60 tuổi trở lên. Ở hầu hết các nƣớc phát triển, từ 65 tuổi trở lên đƣợc coi là ngƣời cao tuổi.
Nhƣng đối với nhiều nƣớc đang phát triển thì mốc tuổi này lại không phù hợp. Hiện tại chƣa có một tiêu chuẩn thống nhất về độ tuổi của ngƣời cao tuổi đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Tổ chức Liên hợp quốc chấp nhận mốc để các định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân thành ba nhóm: Sơ lão (từ 60 đến 69 tuổi), trung lão (từ 70 đến 79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [2]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, khái niệm về ngƣời cao tuổi đƣợc sử dụng và hiểu khác nhau giữa các ngành.
Cụ thể, trong Bộ luật lao động năm 2012 sử dụng thuật ngữ “ngƣời lao động cao tuổi”, theo đó ngƣời lao động cao tuổi là ngƣời tiếp tục lao động sau độ tuổi 60 đối với nam và sau 55 tuổi đối với nữ [7]. Còn theo phạm vi luật chuyên ngành về ngƣời cao tuổi đƣợc pháp luật Việt Nam quy định tại Luật Ngƣời cao tuổi năm 2009. Theo đó, khái niệm của ngƣời cao tuổi đƣợc quy định tại Điều 2: “Ngƣời cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. Nhƣ vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì ngƣời cao tuổi là ngƣời có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, giới tính, dân tộc, thành phần xã hội,.
và đủ 60 tuổi trở lên. Việc sử dụng thuật ngữ và mốc tuổi này, Luật Ngƣời cao tuổi năm 2009 về cơ bản phù hợp với quy định của Tổ chức Liên hợp quốc và các đặc điểm sinh học, quá trình lão hóa, tuổi thọ và đời sống của ngƣời Việt Nam hiện nay, là cơ sở về mặt lý luận để Đảng và Nhà nƣớc định hƣớng và đề ra các chính sách về bảo hiểm xã hội phù hợp hợp nhằm bảo về quyền lợi cho ngƣời cao tuổi. Với mục đích trên, khái niệm “ngƣời cao tuổi” trong Luật Ngƣời cao tuổi năm 2009 khác với các khái niệm trong các ngành luật khác nhƣ ngƣời lao động cao tuổi, ngƣời già, ngƣời già yếu,. Đặc điểm của người cao tuổi Xét về phương diện y học, người cao tuổi là người bước vào giai đoạn lão hóa sâu.
Thể chất của con ngƣời trong giai đoạn này sẽ bị suy giảm, hạn chế về các chức năng, nguy cơ đau ốm cũng theo đó mà ngày càng tăng, phần lớn tình trạng suy giảm này của ngƣời cao tuổi phụ thuộc nhiều vào tuổi tác, tuổi càng cao thì thể trạng của ngƣời cao tuổi sẽ càng kém đi, tỷ lệ mắc các bệnh càng lớn. Hiện nay, ngƣời cao tuổi bên cạnh phải chịu các bệnh do quá trình lão hóa gây ra thì NCT cũng đang phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống dƣới tác động của sự phát triển kinh tế xã hội. Qua nghiên cứu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho thấy, NCT thƣờng mắc các bệnh về xƣơng khớp, tim mạch, huyết áp., các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống nhƣ tinh thần bị sa sút, trầm cảm; và khi NCT mắc bệnh thì việc điều trị cũng lâu hơn các nhóm tuổi khác. Bên cạnh đó, khi tuổi của NCT ngày càng tăng thì nguy cơ khuyết tật cùng sẽ tăng, trong đó khuyết tật thƣờng thấy nhất ở NCT đó là thị lực bị giảm hoặc bị mất thị lực, thính lực cũng bị giảm rất nhiều.
Tình trạng này có thể làm cho NCT cảm thấy tự ti và giảm đi sự giao tiếp xã hội. Ở Việt Nam, thể chất của NCT vẫn chƣa thật sự đƣợc khỏe mạnh nhƣ mong muốn. Theo báo cáo năm 2006 về việc đánh giá về sức khỏe của bản thân ngƣời cao tuổi thì khá tốt mới dừng lại 5,7%, còn đánh giá sức khỏe kém lên đến 22,9% [43]. Tuổi thọ trung bình của NCT Việt Nam khá cao tuy nhiên sức khỏe lại khá thấp, có khoảng 67,2% NCT có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, có nhiều ngƣời mắc bệnh nan y.
Khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính không lây truyền; trung bình 1 ngƣời cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh [22]. Xét về phương diện tâm lý, người cao tuổi thường c tâm lý không ổn định. Bên cạnh việc chăm sóc thể chất cho ngƣời cao tuổi thì vấn đề về tâm lý ngƣời cao tuổi cũng cần đƣợc quan tâm chú ý. Khi tuổi càng cao, ngƣời cao tuổi càng suy nghĩ nhiều, từ đó mang theo những nỗi lo lắng ảnh hƣởng không tốt đến sức khỏe ngƣời già.
Ngƣời cao tuổi thƣờng có tâm lý không ổn định. Khi cơ thể già yếu, các cơ quan bộ bận trong cơ thể bị lão hóa, đi kèm theo đó là tinh thần cũng bị lão hóa, có những biểu hiện thay đổi rõ rệt trong suy nghĩ, lối sống cũng nhƣ cách giải quyết vấn đề. Trạng thái tâm lý của ngƣời cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào bản thân của họ mà còn phụ thuộc vào môi trƣờng xã hội, quan trọng nhất là môi trƣờng gia đình. Theo các nghiên cứu về tâm lý học ở NCT, khi bƣớc sang giai đoạn tuổi già, ngƣời cao tuổi thƣờng thay đổi tâm sinh lý thất thƣờng nhƣ hay hoài niệm quá khứ, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dễ tủi thân, lo lắng.
Chính vì vậy, gia đình và xã hội cần quan tâm, lo lắng cho ngƣời cao tuổi hơn, thƣờng xuyên trò chuyện, có các chính sách chăm lo, bảo đảm các quyền lợi cho ngƣời cao tuổi. Xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể thấy nguồn sống của NCT Việt Nam khá đa dạng, từ lao động của chính bản thân NCT (30%), lƣơng hƣu trợ cấp và của cải tích lũy từ khi còn trẻ và do con cháu chu cấp (39,3%). Có sự khác biệt đáng kể giữa NCT thành thị và nông thôn về nguồn sống từ lƣơng hƣu, trợ cấp hoặc tự lao động để kiếm sống. Lƣơng hƣu hoặc trợ cấp là nguồn sống chính của 35,6% NCT ở thành phố, trong khi chỉ có 21,9% NCT ở nông thôn đƣợc hƣởng lƣơng hƣu hoặc trợ cấp.
Tự lao động để kiếm sống là cách của 35,2% NCT ở nông thôn, khi chỉ có 17,5% NCT ở thành phố phải làm nhƣ vậy. NCT thành thị có lƣơng hƣu/trợ cấp và tích lũy cao hơn 1,5 lần so với NCT nông thôn, ngƣợc lại nguồn sống của NCT nông thôn từ lao động của chính mình cao hơn gấp 2 lần NCT thành thị [27].