CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG 1.Khái quát chung về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động 1. Khái niệm chế độ bảo hiểm tai nạn lao động Bảo hiểm tai nạn lao động là bảo hiểm nhằm chi trả và bồi thường cho người lao động bị thương tật, tai nạn trong quá trình lao động. Bảo hiểm tai nạn lao động nhằm trợ cấp y tế, thay thế tiền lương để người lao động có thể đảm bảo an toàn cho bản thân họ và để họ không yêu cầu khởi kiện người sử dụng lao động về những tai nạn, sự việc sơ xuất trong quá trình lao động Có thể nói rằng TNLĐ gây ra những hậu quả to lớn cho người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội, không chỉ là những thiệt hại về vật chất mà cả những thiệt hại về tinh thần. Theo ước tính của ILO, mỗi năm trên thế giới có khoảng 270 triệu vụ TNLĐ, làm 2 triệu người chết.
Thiệt hại do TNLĐ gây ra ước tính mất khoảng 4% GNP (tổng sản phẩm quốc gia trên toàn thế giới), đó là chưa kể những tổn thất khác cho gia đình người bị nạn và cộng đồng xã hội. Đối với người lao động, TNLĐ làm cho họ giảm sút sức khỏe, suy giảm khả năng lao động, dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ lao động. Nhiều trường hợp sau khi bị TNLĐ, họ không có khả năng tự phục vụ bản thân, trở thành gánh nặng cho gia đình. Bên cạnh những tổn thất về kinh tế, người lao động còn chịu tổn thất nặng nề về tinh thần, bởi không ai muốn trở thành người tàn phế, người vô ích.
Đối với người sử dụng lao động, khi xảy ra TNLĐs ẽ làm phát sinh thêm các chi phí để khắc phục hậu quả như cấp cứu người bị nạn, bồi thường, sửa chữa máy móc, thu dọn hiện trường, tuyển dụng lao động mới., nhiều trường hợp gây ngưng trệ sản xuất. Hơn nữa, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng, tâm lý của người lao động trong đơn vị không yên tâm dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả công 13 việc; người sử dụng có thể bị kiện tụng, hầu tòa hoặc bỏ tù nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với xã hội, TNLĐ gây thiệt hại cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, giảm GDP, tăng chi phí giải quyết hậu quả như chi phí điều trị TNLĐ, chi phí xử lý môi trường, chi phí đào tạo. Để khắc phục những thiệt hại do TNLĐ, đòi hỏi phải có nguồn tài chính đủ lớn.
Nguồn tài chính này có thể có được nhờ tích lũy, vay mượn hoặc tham gia bảo hiểm. đối với những thiệt hại của người lao động, phần lớn các quốc gia đều quy định trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động và trợ cấp từ cơ quan BHXH. Cơ sở để quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động là sự cống hiến của người lao động, sự ràng buộc giữa người sử dụng lao động và người lao động để người lao động được đảm bảo trong một chừng mực nào đó về kinh tế và tính mạng. Trên giác độ an ninh xã hội, người lao động nói chung, người lao động có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng phải được hưởng những phúc lợi xã hội thỏa đáng và BHXH là một trong những chính sách xã hội nhằm thực hiện mục đích này Bên cạnh đó, để giảm thiểu những thiệt hại do TNLĐ cho người lao động, còn có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
đây là một trong những chức năng cơ bản của bảo hiểm nói chung và chế độ Bảo hiểm tai nạn lao độngnói riêng. Đối với người lao động bị TNLĐ, một chuỗi rủi ro có thể xảy ra như: ốm đau, giảm khả năng lao động, mất một phần hoặc mất hoàn toàn khả năng lao động, nếu chết thì thân nhân mất người trụ cột trong gia đình. Trong những trường hợp đó, người lao động cần một khoản tài chính để khắc phục, và BHXH, cụ thể là chế độ bảo hiểm TNLĐ chính là công cụ hữu hiệu bảo vệ người lao động. Như vậy, chế độ BH TNLĐ là một hệ thống các quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện hưởng, mức đóng, mức hưởng, tổ chức thực hiện…, nhằm bảo vệ người lao động trước những rủi ro do TNLĐ.
Đặc điểm chế độ bảo hiểm tai nạn lao động a. Về thời gian hưởng/thời gian cân đối quỹ Chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động vừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn.Trong hệ thống các chế độ BH nếu căn cứ theo thời gian hưởng hoặc thời gian cân đối quỹ, có thể phân chia các chế độ BH ra thành hai loại ngắn hạn và dài hạn. Với các chế độ ngắn hạn, người lao động chỉ tạm thời bị suy giảm khả năng lao động (hoặc mất việc làm), sau đó họ lại quay trở lại lao động sản xuất, do đó thời gian hưởng chế độ ngắn, thường là nhận trợ cấp một lần hoặc thời gian hưởng được giới hạn trước. Với loại chế độ này quỹ thường được quản lý theo kỹ thuật phân chia và được cân đối trong thời gian ngắn (thường là một năm).
Còn đối với các chế độ dài hạn, người lao động bị mất khả năng lao động vĩnh viễn, họ không có khả năng tiếp tục lao động để có thu nhập hoặc nếu có tìm kiếm được việc làm thì thu nhập từ lao động cũng thấp hơn rất nhiều, nên thường là nhận trợ cấp thường xuyên, trong thời gian dài. Với loại chế độ này quỹ thường được quản lý theo kỹ thuật tồn tích và được cân đối trong thời gian dài. Hầu hết các chế độ BH được phân loại hoặc là ngắn hạn hoặc là dài hạn, nhưng chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động lại có sự khác biệt. đối với những người bị tai nạn lao độngnhẹ, họ có khả năng phục hồi sức khỏe sau tai nạn lao độngthì chỉ cần hưởng chế độ trong thời gian ngắn.
Còn đối với những người bị tai nạn lao động nặng, vĩnh viễn mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động thì họ cần được hưởng chế độ trong thời gian dài, từ khi bị TNLĐ cho đến khi chết. Chính vì vậy mà chế độ Bảo hiểm tai nạn lao độngvừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn. điều đó làm cho việc cân đối quỹ Bảo hiểm tai nạn lao độngphức tạp hơn so với nhiều chế độ khác. Về nguồn hình thành quỹ Trách nhiệm đóng góp vào quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động chủ yếu là người sử dụng lao động.
15 Tai nạn lao động là những rủi ro gắn liền với quá trình lao động sản xuất. Từ khi loài người tiến hành các hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì cũng bắt đầu xuất hiện những rủi ro từ lao động, ban đầu là TNLĐ. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, các “rủi ro” có xu hướng diễn ra thường xuyên hơn. Thời kỳ đầu, người lao động nếu bảo hiểm tai nạn lao độngthì phải tự mình khắc phục, hoặc dựa vào sự trợ giúp từ cộng đồng, hoặc dựa vào tòa án phân xử để được tiền đền bù.
Dần dần những nguyên tắc xác định trách nhiệm đền bù cho người lao động mới được đặt ra. Khi đề cập đến trách nhiệm đền bù cho người bị nạn thì trước tiên người ta nghĩ tới trách nhiệm của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động là người thuê lao động, có quyền tổ chức và quản lý lao động của người lao động, vì vậy hệ quả tất yếu là họ phải chịu trách nhiệm về những rủi ro xảy ra trong quá trình lao động làm ảnh hưởng tới sức khoẻ, tính mạng, đời sống của người lao động, đặc biệt trong trường hợp người lao động bị TNLĐ. Vì vậy, từ cuối thể kỷ XIX, pháp luật của nhiều nước đã quy định việc đền bù đối với rủi ro nghề nghiệp là thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động. Khi chế độ Bảo hiểm tai nạn lao độngra đời, trách nhiệm đền bù của người sử dụng lao động được chuyển sang cho tổ chức bảo hiểm với điều kiện là người sử dụng lao động phải đóng phí cho tổ chức bảo hiểm.
Vì vậy, hiện nay, các nước đều quy định trách nhiệm đóng góp vào quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động là của người sử dụng lao động. Về xác định mức phí Mức phí đóng góp giữa các ngành, nghề, đơn vị sử dụng lao động có thể khác nhau do mức độ xảy ra tai nạn lao động là khác nhau. Khi tính toán mức phí đóng góp cho các bên tham gia, các nhà bảo hiểm phải dựa trên cơ sở khoa học. Phí bảo hiểm được xác định phụ thuộc vào các số yếu tố như: xác suất xảy ra rủi ro (dựa trên cơ sở số liệu thống kê trong quá khứ), nguy cơ xảy ra rủi ro của người tham gia, phương thức đóng góp, phạm vi bảo hiểm, mức hưởng.
Nếu như các rủi ro khác như ốm đau, thai sản, chết. khó có thể đánh giá 16 nguy cơ xảy ra rủi ro giữa các ngành nghề, thì nguy cơ xảy ra rủi ro tai nạn lao động có thể đánh giá được. Có những ngành nguy cơ xảy ra TNLĐ cao như xây dựng, khai thác mỏ., chỉ xảy ra ở những ngành mà môi trường làm việc có yếu tố độc hại. Vì vậy, để đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng tham gia chế độ BHTNLĐLĐ, mức phí đóng góp có thể xác định khác nhau, tùy vào nguy cơ xảy ra rủi ro đối với họ.
Trong cùng một ngành, nghề, mức phí đóng góp giữa các đơn vị sử dụng lao động cũng có thể khác nhau do việc thực hiện công tác vệ sinh, an toàn lao động ở các đơn vị. Nếu đơn vị thực hiện không đúng quy định về công tác an toàn, vệ sinh lao động thì mức phí đóng góp sẽ cao hơn và ngược lại, nếu đơn vị thực hiện tốt thì mức phí sẽ thấp hơn. Về xác định mức hưởng Việc xác định mức hưởng chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động là phức tạp. Xét về bản chất thì BHXH nói chung và chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động nói riêng nhằm bù đắp phần thu nhập từ lao động cho người lao động khi gặp rủi ro, do đó, khi xác định mức hưởng, người ta thường căn cứ vào mức tiền lương, tiền công bị giảm hoặc mất của người lao động.