ĐẢM BẢO QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tìm hiểu về bảo đảm quyền riêng tư và bí mật cá nhân theo pháp luật Việt Nam. Luận văn chuyên sâu về quyền con người và các quy định liên quan.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Quyền Riêng tư và Bí mật Cá nhân Luận văn 2024

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhânbí mật gia đình. Mọi người đều có quyền bảo vệ danh dự, uy tín. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn (Điều 21). Điều này phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR). Nhà nước thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bằng pháp luật, bao gồm các quy định về hình sự, dân sự và hành chính. Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển, việc bảo vệ quyền riêng tư trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, khi những hành vi vi phạm có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về uy tín, danh dự và tài sản. Nghiên cứu này nhằm xem xét sự hoàn thiện và bất cập của pháp luật trong việc bảo vệ quyền này, từ đó đưa ra các kiến nghị giải pháp.

1.1. Ý nghĩa của bảo đảm An toàn Thông tin Cá nhân online

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và mạng xã hội, việc bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên môi trường mạng trở nên vô cùng quan trọng. Các nền tảng như Facebook, Twitter (X), Telegram, TikTok... tạo ra nhiều cơ hội để cá nhân thể hiện bản thân, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro xâm phạm quyền riêng tư. Hậu quả của những hành vi này có thể rất nghiêm trọng, từ thiệt hại về uy tín, danh dự đến tài sản. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư trên môi trường mạng là vô cùng cần thiết.

1.2. Phạm vi nghiên cứu Luật Pháp Việt Nam về Quyền Riêng tư

Luận văn này tập trung nghiên cứu các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay. Nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn, ngăn ngừa và xử lý vi phạm, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ. Tác giả sẽ đi sâu vào các vụ việc xâm phạm bí mật đời sống riêng tưbí mật cá nhân, từ việc lộ lọt thông tin cá nhân đến phát tán hình ảnh nhạy cảm, để tìm ra những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành.

II. Vấn đề Xâm phạm Quyền Riêng tư Nghiên cứu Pháp luật Hiện hành

Thực tế cho thấy, dù pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định điều chỉnh nhằm hạn chế và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền riêng tư, nhưng tình trạng vi phạm vẫn diễn ra, thậm chí có dấu hiệu gia tăng. Điều này đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của các biện pháp pháp lý hiện hành. Liệu những quy định này đã đủ mạnh và có tính răn đe cao hay chưa? Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc đánh giá các quy định pháp luật hiện hành, xác định những điểm yếu và nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm.

2.1. Thực trạng Xử lý Vi phạm Quyền Riêng tư Phân tích pháp lý

Phân tích sâu thực trạng áp dụng quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam, pháp luật hành chính và pháp luật dân sự đối với việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân. Nghiên cứu xem xét các vụ việc thực tế, đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp xử lý và xác định những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm và bảo vệ quyền riêng tư của công dân.

2.2. Nguyên nhân Xâm phạm Bí mật Cá nhân Phân tích các yếu tố

Phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm phạm bí mật cá nhân phổ biến tại Việt Nam. Nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và công nghệ có ảnh hưởng đến hành vi xâm phạm. Đặc biệt, tập trung vào vai trò của mạng xã hội và công nghệ số trong việc gia tăng nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu các yếu tố nguy cơ và nâng cao nhận thức về quyền riêng tư cho người dân.

2.3. Nghiên cứu So sánh Pháp luật về Quyền Riêng tư Việt Nam và Quốc tế

Nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật về quyền riêng tư giữa Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt. Phân tích những ưu điểm và nhược điểm của từng hệ thống pháp luật, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư. Đặc biệt chú trọng đến các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhânquyền riêng tư trên môi trường mạng.

III. Giải pháp Bảo vệ Quyền Riêng tư Hoàn thiện Pháp luật Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền riêng tưbí mật cá nhân tại Việt Nam, cần có những giải pháp toàn diện và đồng bộ. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường nhận thức về quyền riêng tư cho người dân. Các giải pháp này cần dựa trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và tham khảo kinh nghiệm quốc tế.

3.1. Hoàn thiện Khung Pháp luật về Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân

Đề xuất các sửa đổi, bổ sung đối với các văn bản pháp luật hiện hành về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đặc biệt, cần tập trung vào việc xây dựng một đạo luật riêng về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cơ chế xử lý vi phạm và biện pháp bảo đảm an toàn thông tin. Đạo luật này cần phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế tại Việt Nam.

3.2. Nâng cao Hiệu quả Thực thi Pháp luật về Quyền Riêng tư

Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền riêng tư. Cần tăng cường năng lực cho các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý các hành vi xâm phạm. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức về quyền riêng tư cho người dân. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền riêng tư.

3.3. Tăng cường Cơ chế Bảo vệ Quyền Riêng tư cho người dân

Xây dựng và củng cố cơ chế bảo vệ quyền riêng tư hiệu quả cho người dân. Thiết lập đường dây nóng và các kênh thông tin để người dân có thể dễ dàng báo cáo các hành vi xâm phạm. Cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí cho người dân về quyền riêng tư. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giám sát và bảo vệ quyền riêng tư.

IV. Ứng dụng Nghiên cứu Bảo đảm Quyền Riêng tư trong Kinh doanh

Nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhânquyền riêng tư của khách hàng. Việc xây dựng chính sách bảo mật rõ ràng, minh bạch và thực hiện các biện pháp bảo mật hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tạo dựng lòng tin với khách hàng và nâng cao uy tín trên thị trường.

4.1. Trách nhiệm Nghĩa vụ Bảo mật Thông tin của Doanh nghiệp

Nêu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ bảo mật thông tin của doanh nghiệp đối với dữ liệu cá nhân của khách hàng. Doanh nghiệp phải thu thập, sử dụng và lưu trữ dữ liệu một cách hợp pháp, minh bạch và an toàn. Doanh nghiệp phải có biện pháp bảo vệ dữ liệu khỏi bị truy cập, sử dụng, tiết lộ, sửa đổi hoặc phá hủy trái phép. Doanh nghiệp phải thông báo cho khách hàng về chính sách bảo mật và quyền của họ.

4.2. An toàn Thông tin Cá nhân Giải pháp cho Doanh nghiệp

Cung cấp các giải pháp cụ thể để doanh nghiệp đảm bảo an toàn thông tin cá nhân. Sử dụng các công nghệ bảo mật tiên tiến như mã hóa dữ liệu, tường lửa, hệ thống phát hiện xâm nhập. Thực hiện kiểm tra an ninh định kỳ để phát hiện và khắc phục các lỗ hổng. Đào tạo nhân viên về bảo mật thông tin và nâng cao nhận thức về các rủi ro an ninh mạng.

4.3. Quyền Riêng tư trong Hoạt động Kinh doanh Các quy định mới

Phân tích các quy định pháp luật mới nhất về quyền riêng tư trong hoạt động kinh doanh. Cập nhật các thay đổi trong pháp luật và hướng dẫn doanh nghiệp cách tuân thủ. Đặc biệt, chú trọng đến các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trực tuyến, thu thập và sử dụng cookie, và quảng cáo trực tuyến.

V. Kết luận Tương lai Bảo vệ Quyền Riêng tư tại Việt Nam

Bảo vệ quyền riêng tưbí mật cá nhân là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại. Nghiên cứu này đã đưa ra những đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật và đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cập nhật các quy định pháp luật để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và bảo vệ quyền riêng tư của công dân một cách hiệu quả nhất.

5.1. Luật pháp Việt Nam về Quyền Riêng tư Đánh giá và triển vọng

Đánh giá những thành tựu và hạn chế của luật pháp Việt Nam về quyền riêng tư. Nhấn mạnh những thách thức trong việc bảo vệ quyền riêng tư trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ. Đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển của pháp luật về quyền riêng tư trong tương lai.

5.2. Hướng tới Cơ chế Bảo vệ Quyền Riêng tư toàn diện tại Việt Nam

Khuyến nghị xây dựng một cơ chế bảo vệ quyền riêng tư toàn diện tại Việt Nam, bao gồm cả các quy định pháp luật, cơ chế thực thi và các biện pháp hỗ trợ người dân. Nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan, bao gồm nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân, trong việc bảo vệ quyền riêng tư. Kêu gọi sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhânquyền riêng tư.

25/04/2025
Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư bí mật cá nhân theo pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân theo pháp luật Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân 1.

Khái niệm về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân Chúng ta thấy khái niệm “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân theo pháp luật Việt Nam”, tồn tại ba thành phần chính: thứ nhất là “Bảo đảm”, thứ hai là “đời sống riêng tư” và thứ ba là “bí mật cá nhân”. Vì thể trước tiên cần phải làm rõ các khái niệm này thì mới mới có thể định hình về “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm đời sống riêng tư và bí mật cá nhân”. Khái niệm “Bảo đảm”. Bảo đảm theo từ điển Tiếng Anh là Guarantee; Theo từ điển Hán Việt Wiktionary thì “Bảo đảm” danh từ có nghĩa là “Sự thực hiện được hoặc giữ được”.

“Bảo đảm” được giải thích theo Từ điển Luật Học do Viện Khoa Học Pháp lý – Bộ Tư Pháp nghiên cứu biên soạn và xuất bản năm 2006 tại Trang số 27 xác định: “Bảo đảm” được hiểu là "Trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường.” Cuốn từ điển này còn nhắc tới khái niệm về “bảo bảm pháp luật”, cụ thể theo giải thích tại Trang số 28 “bảo đảm pháp luật” là:“Một trong những quyền cơ bản của công dân. Mọi quyền, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân như quyền nhân thân, quyền dân sự, quyền chính trị xã hội, quyền sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… đều được nhà nước bảo hộ bằng những điều luật cụ thể được ghi trong các đạo luật cụ thể. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho các quyền công dân đã được ghi trong các đạo luật phải được thực thi, phải tạo điều kiện cho công dân được hưởng các quyền đó. Trong trường hợp có sự vi phạm đến các quyền của công dân thì phải áp dụng các biện pháp để loại trừ.

Cán bộ, công chức nhà nước sẽ 10 phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp họ không hành động để bảo vệ quyền và quyền lợi của công dân”. Ngoài ra đối với một số lĩnh vực cũng có khái niệm về bảo đảm như trong hoạt động về bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin cũng đưa ra khái niệm:“Bảo đảm an ninh thông tin” là các hoạt động quản lý, kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống hành vi sử dụng, lợi dụng cơ sở hạ tầng bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin để xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội và lợi ích của công dân.”, quy định tại điểm b, Mục 2, Phần I, Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA ngày 28/11/2008 giữa Bộ Thông tin và truyền thông với Bộ Công an về Bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin. Như vậy “bảo đảm” có thể được hiểu là: Các hoạt động của Nhà nước nhằm quản lý, kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm cũng như đấu tranh phòng, chống đối với các hành vi vi phạm xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức đã được ghi trong các đạo luật; Trường hợp có sự vi phạm đến các quyền đó thì Nhà nước phải áp dụng các biện pháp, chế tài để loại trừ, chấm dứt những sự vi phạm đó. Khái niệm Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân.

Bí mật cá nhân là tổng thể các quan hệ quá khứ, các thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất chi phối các quan hệ cụ thể của cá nhân mà bị bộc lộ sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác, mà bản chất của yếu tố bí mật cá nhân không gây ra bất kỳ một thiệt hại nào cho chủ thể khác. Trong đó các thông tin cá nhân được xác định: là thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác [Khoản 5, Điều 3, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước]. Trong khi đó Bí mật đời tư được 11 xác định là những thông tin, tư liệu sự kiện, hoàn cảnh về đời tư của cá nhân mà người khác không được loan truyền nếu không được người đó đồng ý hoặc pháp luật cho phép.

Và Đời sống riêng tư là tập hợp những suy nghĩ, hành động, những sự việc, quan hệ liên quan đến cá nhân mà cá nhân giữ cho riêng mình, những vấn đề thuộc về đời sống riêng tư tuy không phải là các bí mật nhưng vẫn được pháp luật bảo hộ. Về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân hiện tại đang được các quốc gia, học giả trong và ngoài nước thừa nhận cũng như được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật là những gì mà theo lẽ công bằng mà một người có thể được hưởng, được làm và có quyền được yêu cầu, đòi hỏi các chủ thể khác phải tôn trọng cách xử sự của mình. Về mặt pháp lý, quyền luôn được hiểu là các quy tắc xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện, dựa trên nhu cầu của bản thân, trong đó bao gồm cả những gì mà pháp luật quy định cụ thể và những gì mà pháp luật không cấm. “Đời sống” được hiểu là “sự sinh sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể một sinh vật” hoặc “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” hoặc “lối sống, điều kiện sống, sinh hoạt của con người, xã hội”.

Còn “riêng tư” được định nghĩa là “riêng của từng người, từng cá nhân”. Quyền bí mật cá nhân là quyền dân sự, là quyền nhân thân gắn với cá nhân bất khả xâm phạm và bất khả chuyển giao. Những bí mật của cá nhân theo tính chất phụ thuộc mật độ và tính chất của các quan hệ xã hội khác. Bí mật cá nhân thuộc về bí mật đời tư là những thông tin, những quan hệ trong quá khứ và hiện tại của cá nhân và cá nhân không muốn bộc lộ công khai.

Cũng về mặt pháp lý, khái niệm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư chủ yếu hàm ý quyền về đời sống riêng tư (the right to privacy). Cụm từ “bất khả xâm phạm” chỉ mang tính tương đối, được dùng với tính chất để nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền này (theo Từ điển tiếng Việt “bất khả xâm phạm” là không ai có quyền xâm phạm đến, đụng đến [29, tr. Tại mỗi quốc gia trên thế giới tùy vào điều kiện cụ thể mà mức độ đề cập đến quyền này ít nhiều có sự khác nhau, tuy nhiên quyền về đời sống riêng tư đều được coi là một quyền con người cơ bản, được hiến định, đồng thời được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác. Tại Việt Nam Điều 21, Hiến Pháp 2013 quy định: “Một 12 người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Quy định này của Hiến Pháp 2013 được cụ thể hoá bằng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015: Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng có công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.[Điều 38] Khái niệm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân. Hiện nay theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, học giả trên thế giới cũng như tại Việt Nam thì “Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và bí mật cá nhân” (the right to privacy) được tạo thành bởi ba yếu tố gồm “quyền bất khả xâm phạm”, “đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân”.

Tuy nhiên, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân lại là một trong những yếu tố cấu thành của quyền nhân thân và là một khía cạnh của biểu đạt thuộc quyền dân sự. Về nguyên tắc thì quyền này chỉ bao hàm những gì thuộc về một cá nhân nhất định, để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác như các yếu tố về họ tên, giới tính, tuổi tác, trình độ, nghề nghiệp, dân tộc. Hiện tại theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và giữa các nhà khoa học vẫn chưa có một sự thống nhất rõ ràng đối với khái niệm quyền về đời sống riêng tư và bí mật cá nhân. Tại Việt Nam các nhà làm luật thừa nhận: 1.

Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của 13 người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ