CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN DÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về quyền dân sự của công dân 1. Khái niệm quyền dân sự của công dân Theo định nghĩa của Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền (United Nations High Commissioner for Human Rights - UNHCHR) thì “quyền con người là những bảo đảm về mặt pháp lý trên toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”. Bên cạnh đó, quyền con người còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người1.
Điều 17 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” nên khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch. Theo nghĩa, quốc tịch là mối liên hệ giữa một cá nhân với một Nhà nước nhất định, nếu là công dân của một Nhà nước thì được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật của Nhà nước đó quy định, những người không phải là công dân của Nhà nước đó thì quyền lợi và nghĩa vụ đương nhiên sẽ bị hạn chế. Quyền công dân được coi là quyền cơ bản mà Hiến pháp của mỗi nước quy định cho người mang quốc tịch nước mình và tùy thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội mà phạm vi cũng như mức độ quyền công dân rộng hẹp khác nhau. Có thể thấy, quyền con người có nội dung thống nhất cho toàn nhân loại và được ghi nhận trên toàn thế giới còn quyền công dân bị giới hạn bởi yếu tố quốc gia, vùng lãnh thổ.
Quyền con người và quyền công dân là những nội dung quan trọng của Hiến pháp. Về nội hàm, quyền con người có nội hàm rộng hơn so với quyền công dân. Quyền con người thể hiện mối quan hệ cá nhân – cộng đồng nhân loại. Trong khi đó, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn, là những quyền con người được Nhà nước thừa nhận và áp dụng cho người có quốc tịch của nước mình.
Về tính chất, quyền con người là tự nhiên, vốn có, thể hiện địa vị của cá nhân với tư cách là công dân của một quốc gia với cộng đồng nhân loại. Quyền công dân được xác định bằng pháp luật của Nhà nước, thể hiện vị thế là một công dân với quốc gia mà mình mang quốc tịch. Về phạm vi áp dụng, quyền con người được áp dụng trên phạm vi 1 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 toàn cầu mà không bị thay đổi theo hoàn cảnh, thời gian.
Đối với quyền công dân chỉ được áp dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và có sự khác nhau về cơ chế áp dụng giữa các quốc gia. Về cơ chế bảo vệ, quyền con người được bảo vệ thông qua các diễn đàn, qua cơ chế điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về vi phạm nhân quyền của các cơ quan như Liên Hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ khu vực. Quyền công dân được bảo vệ thông qua cơ chế tài phán và Tòa án ở mỗi quốc gia. Quyền con người và quyền công dân tuy không đồng nhất với nhau nhưng rất gần gũi với nhau cả về mặt khái niệm lẫn tính chất, đặc điểm.
Theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công dân” đều là những phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền con người) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền công dân). Quyền con người và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung, đó là con người, và một chủ thể chung khác là cộng đồng nhân loại, trong đó thể chế chính trị - pháp lý trung tâm của nó là Nhà nước. Thêm vào đó, quyền con người và quyền công dân, về bản chất, đều là những gì mà một cá nhân con người được phép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác. Các quyền con người, quyền công dân được các nước trên thế giới pháp điển hóa vào Hiến pháp theo những cách thức nhất định.
Viễn cảnh về quyền con người có thể được nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân và ngược lại. Sự tương đồng kể trên khiến cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trở lên khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khác nhau. “Dân sự” là dùng để chỉ các việc có liên quan đến dân nói chung, thuộc về quan hệ pháp lý về tài sản, nhân thân hoặc hôn nhân gia đình 2. Về mặt pháp lý, dân sự được coi là một nhánh pháp luật quy định các vấn đề liên quan đến cá nhân, pháp nhân như địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ tài sản.
Theo tác giả Dương Đăng Huệ: lĩnh vực dân sự là lĩnh vực hoạt động rộng rãi, phong phú của con người, được đặc trưng bởi tính tự do, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó3. Năm 1977, Karel Vasak đưa ra ý tưởng về ba “thế hệ nhân quyền” (generations of human rights) nhằm phân tích lịch sử phát triển của quyền con người. Nhóm nhân quyền thế hệ thứ nhất là các quyền dân sự, chính trị. Nhóm nhân quyền thế hệ thứ hai là các quyền con người trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn 2 Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, tr.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1839&l=Nghiencuutraodoi , (truy cập ngày 1/6/2021).
Nhóm nhân quyền thế hệ thứ ba là các quyền tập thể. Trong thế hệ thứ nhất, quyền dân sự gắn liền với phạm trù tự do cá nhân. Các quyền dân sự, chính trị được chính thức pháp điển hóa trong luật pháp quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần II, đặc biệt là Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966. Với vai trò quan trọng của các quyền dân sự mà Luật pháp quốc tế về quyền con người cũng như Hiến pháp của hầu hết các nước đều đặt các quyền dân sự lên hàng đầu, không chỉ đặt trước các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (vốn thuộc thế hệ thứ 2 của quyền con người) mà còn đặt trước các quyền chính trị vốn cùng thế hệ thứ nhất với quyền dân sự.
Nhóm quyền này mang đậm chủ nghĩa cá nhân và được xây dựng để bảo vệ cá nhân khỏi sự xâm hại của nhà nước. Nhóm quyền dân sự – chính trị được hợp pháp hóa và có vị thế nhất định trong luật pháp quốc tế được thông qua từ Điều 3 tới Điều 21 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Bên cạnh đó, văn bản pháp lý có tính khu vực quan trọng là Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản (ECHR). Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm, mà chỉ liệt kê các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực dân sự.
Theo đó, quyền dân sự có thể hiểu là khả năng được phép xử sự theo một cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự để thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình. Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt Nam chưa đưa ra khái niệm quyền dân sự. Có thể định nghĩa quyền dân sự là khả năng được phép xử sự theo một cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự, phát sinh trong lĩnh vực dân sự để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình. Quyền dân sự được hiểu là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác (quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú.
Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng thì quyền dân sự là “quyền dân sự bao gồm một lớp các quyền nhằm bảo vệ tự do cá nhân từ hành động không có cơ sở của Nhà nước mà không bị phân biệt đối xử. Quyền dân sự bao gồm việc bảo đảm toàn vẹn về thể chất hoặc tâm thần, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, nguồn gốc quốc gia, tuổi tác, định hướng tình dục hoặc giới tính và quyền tự do của tư tưởng và lương tâm, ngôn luận, tôn giáo, báo chí và chuyển động. Quyền dân sự tạo ra cho cá nhân một không gian sinh tồn trong cuộc sống đời thường chống lại sự can thiệp 4 Tường Duy Kiên - Nguyễn Thanh Tuấn (2018) “Bảy mươi năm “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” – Giá trị thời đại và ý nghĩa đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, tr. 9 vô căn cứ của Nhà nước.
Các quyền dân sự gắn liền với phạm trù tự do cá nhân - một phạm trù ở góc độ nhất định, mang tính đối trọng với phạm trù quyền lực Nhà nước”5. Theo tác giả Nguyễn Hồng Anh (Viện nghiên cứu con người) thì quyền dân sự là kết quả của nền dân chủ phương Tây. Đó là tự do của con người, bao gồm các quyền tự do được làm và tự do thoát khỏi. Quyền tự do được làm bao gồm tự do đi lại, tự do cư trú…Quyền tự do thoát khỏi gồm các quyền liên quan như không ai có thể bị bắt hay giam giữ vô cớ, không ai có thể là nạn nhân của sự tra tấn, trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục6.
Như vậy, tác giả Nguyễn Hồng Anh chỉ đưa ra đặc điểm của quyền dân sự là tự do của con người mà chưa làm rõ mục đích của quyền dân sự là giới hạn, ngăn chặn sự tùy tiện và lạm quyền từ phía Nhà nước xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân.